Nhà lãnh đạo VÕ VĂN KIỆT qua góc nhìn thật gần của nhà thơ TRIỆU TỪ TRUYỀN

Nhà lãnh đạo VÕ VĂN KIỆT qua góc nhìn thật gần của nhà thơ TRIỆU TỪ TRUYỀN

[Vào lúc : 15:37 – 10/06/2009 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]
Nhà thơ Triệu Từ Truyền từng là một gương mặt tiêu biểu của phong trào đấu tranh đô thị tại Sài Gòn trước năm 1975. Hai lần bị bắt đi tù Côn Đảo, Triệu Từ Truyền càng thấm thía hơn giá trị những người làm cách mạng. Nhân ngày giỗ đầu của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhà thơ Triệu Từ Truyền chia sẻ với bạn đọc lethieunhon.com một góc nhìn thật gần về một nhà lãnh đạo uy tín. Trong bài viết này, hành trình từ nghĩa sĩ Phan Văn Hòa đến Thủ tướng Võ Văn Kiệt, được nhà thơ Triệu Từ Truyền gọi bằng danh xưng chân tình “chú Sáu Dân”!

Võ  Văn Kiệt- nghĩa sĩ và hiền tài

TRIỆU TỪ TRUYỀN

Nghĩa sĩ Phan Văn Hòa

Lúc tôi là cậu bé 12 tuổi, làm liên lạc cho một cấp ủy Đảng, tôi nghe lóm Đài BBC do người lớn mở vào mối chiều tối. .. “hôm qua Việt cộng vừa bỗ nhiệm Chín Dung  làm bí thư đặc khu ủy Sài Gòn Gia Định…”. Một anh cấp trên của tôi nói lại, Chín Dũng chớ không phải Dung. Anh nói thêm, mấy chú bí thư trước  không tồn tại nỗi một năm thì bị bắt. Mấy năm sau, tôi được anh Ba Phan kể về lớp học ở Rừng Già và những lời tâm huyết của bí thư đặc khu, chú Chín Dũng bây giờ thường gọi là Sáu Dân. Anh Ba còn cho biết chú Sáu Dân nhiều năm làm bí thư tỉnh Đoàn, thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, hiện giờ chú là trung ủy (thói quen nói tắt ủy viên trung ương Đảng). Tôi đặc biệt ấn tượng Chú Sáu, chưa đầy 20 tuổi, là nghĩa sĩ của khởi nghĩa Nam kỳ, chống thực dân Pháp ở một huyện thuộc tĩnh Vĩnh Long, tháng 11năm 1940.
Phải chăng đây là bước ngoặt làm người của những thanh niên trang lứa với chàng trai Phan văn Hòa , sau này là Võ Văn Kiệt, trong bối cảnh đó vùng lên lật đổ ách thống trị của ngoại bang, ai cũng phải đồng thuận là những nghĩa sĩ anh hùng, vì dám đem mạng sống để giải phóng dân tộc? Hành động ấy là tiếp bước Thủ khoa Huân, Trương Định, Nguyễn Trung Trực…Riêng với anh Phan văn Hòa đã được bối cảnh lịch sử đẩy vào quỹ đạo cách mạnh của trào lưu cộng  sản kể từ ấy.
Anh Phan văn Hòa là nghĩa sĩ của dân tộc, mà nghĩa sĩ thì không chọn bối cảnh và học thuyết để hành động, hành động ngay khị có chuyện bất bình xuất hiên.
(Làm sao có thể chọn lựa nào khác ? Việt Nam Quốc dân Đảng không còn bản chất yêu nước như thời Nguyễn thái Học, thủ lãnh Nguyễn An Ninh sau nhiều cố gắng gây dựng lực lượng, tuy không gia nhập Đảng, đã giao hết lực lượng của mình cho Đảng C.S. Và theo tôi nghiên cứu, ở Việt Nam, Tuyên ngôn Cộng Sản của Karl  Marx soạn thảo lần đầu tiên được Nguyễn An Ninh đăng lên báo của ông).

Hiền tài Võ văn Kiệt

Một vệ tinh sau khi được đẩy lên quỹ đạo sẽ luôn bay theo quán tính, con đường vào đời cũng gần giống như vậy, vì những tương tác xã hội  giữ ý chí theo một hướng ban đầu. Tất cả thanh niên chọn con đường kháng chiến cứu nước đầu thế kỷ 20 cũng cùng một thân phận ,cùng một con đường. Nếu ai thoát ra sẽ bị công luận lên án là phản bội, tiếp tay cho kẻ xâm lược, chí ít cũng là kẻ cầu an hưởng lạc, trái ngược lại với đạo lý ngàn đời: quốc gia hưng vong thất phu hữu trách.
Ông Võ Văn Kiệt dù ở cương vị nào trong giai đoạn kháng chiến, đều xuất sắc trong hành động và tấm gương về nhân cách. Ông hành động quyết liệt và tỉnh táo để bảo vệ những người cùng chí hướng, bảo vệ đồng bào sống ở vùng giải phóng  trong mấy năm bị đối phương phản kích, lấn chiếm lúc ông giữ trọng trách tại  miền tây Nam Bộ và sau Tết Mậu Thân và Hiệp định Paris 1972, thành quả ấy ông được mệnh danh là “ông già chữa cháy”.

Tấm gương nhân cách  xuất phát từ lòng thương người và không cuồng tín của ông, tôi nghe kể khi học chỉnh huấn ở Việt Bắc. Ông đã nói ở Việt Nam không có Bạch Mao Nữ (một cuốn phim kể về sự độc ác tột cùng của địa chủ Trung Hoa), và ông đã nhận kỷ luật cảnh cáo của cấp trên, vì không chịu làm bí thư tỉnh ủy thay cho một đàn anh xuất thân địa chủ vào năm 1950. Hai mươi bảy năm  sau, họp về cải tạo công thương nghiệp xong, cậu tài xế của chú Sáu Dân kể lại với tôi, ông nói sắp tới chú cháu mình muốn ăn tàu hủ cũng không ai  bán đâu. Nghe vậy tôi cũng giảm chán nản vì cấp trên của mình còn có người sáng suốt, trong lúc tôi bị một ông bí thư quận ủy đòi rút thẻ đảng vì thắc mắc mãi chủ trương cải tạo này.

Một kỷ niệm không quên của tôi: Vào cuối năm 1970, tại vùng biên giới giáp Campuchia, bên bờ sông Sở Thượng, tôi được Chú Sáu Dân gọi đến để báo cáo tình hình phong trào học sinh nội thành Sài Gòn – Gia Định. Năm ấy, tôi ngoài 20 tuổi còn chú Sáu Dân đã gần 50. Tôi ngồi đợi chú Sáu trên một nhà sàn ven sông, anh bảo vệ cho biết chú đang tắm sông và bơi để giữ sức khỏe. Khi chú vào nhà, tôi rất xúc động vì xa cách mấy năm do tôi bị địch bắt đày Côn Đảo. Chú Sáu Dân rất vui và gọi nhà bếp nướng trui con cá lốc, tôi vừa ăn cơm tối vừa trả lời những câu thăm hỏi thân tình của chú. Cơm nước xong, chú Sáu Dân nghe tôi báo cáo tình hình phong trào , chú luôn hỏi cặn kẽ và tỉ mỉ mọi việc, ngay cả những công đoạn làm báo của học sinh trong nhà trường. Chú đặc biệt lắng nghe dư luận vùng tạm chiếm, những ưu tư và tâm trạng của thanh niên sinh viên học sinh trước thời cuộc. Nhân tiện, tôi báo cáo với chú về một trường hợp kết nạp đảng mà tôi còn băn khoăn, học sinh ấy rất nhiệt tình cách mạng, lại là ngọn cờ hiệu triệu đám đông, nhưng  là con trong gia đình có đạo nhiều đời…Chú Sáu Dân cho rằng tôi quyết định kết nạp đúng với những phân tích sâu sắc về vô thần hữu thần, về giai cấp đấu tranh…để chống lại quan điểm thành phần chủ nghĩa. Từ đó tôi cảm nhận chú Sáu Dân có tấm lòng rộng mở, với chính nghĩa sẽ bao dung được tất cả.
Đến năm 1978, chú Sáu Dân còn giới thiệu anh học sinh của mười năm trước kể trên , bây giờ là cán bộ Thành Đoàn, Đại biểu Quốc Hội, được đi học trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Khi anh ra Hà Nội nhập trường, bị hỏi giấy kết nạp đảng, tôi lại phải làm giấy xác nhận với lý lẽ chứng cứ đầy đủ (đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao lại có chuyện bi hài như vậy? Vì chắc chắn anh đi học đã được chị bộ  cắt chuyển sinh hoạt đảng, hơn nữa còn có giới thiệu của ông ủy viên trung ương nữa)

Tôi còn được biết chú Sáu Dân cho bảo lãnh nhiều trí thức đi vượt biên bị bắt, và người đi thoát  được, hai mươi năm sau về nước gặp lại ông vẫn cởi mở vui vẻ thân tình. Đặc  biệt với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ông bão lãnh không cho đưa đi cải tạo…Rõ ràng ông không chỉ chữa cháy trong chiến tranh mà thật sự chữa cháy trong hòa bình.
Ông là người chiến thắng nhưng không kiêu căng, tự phụ, người có quyền lực mà chỉ xử sự bằng tấm lòng, người có lý tưởng mà không cuồng tín, người của thời cuộc mà nhân cách thánh hiền.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Nhân dân  mãi mãi nhớ ông Võ Văn Kiệt là người khai mở nhiều công trình xây dựng lớn; thúc đẩy xuất khẩu phát triển; ngoại giao thêm bạn bớt thù, chính xác hơn tăng cường đối tác toàn cầu; và luôn giữ vững chủ quyền, độc lập. Ông Phạm Văn Đồng, người ở cương vị Thủ tướng dài nhất thế giới, 32 năm , từng  nói: “Đánh giá đúng mức và khách quan thì, trong các đời Thủ tướng của Việt Nam, kể cả tôi, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người làm được nhiều việc và làm được nhiều việc tốt nhất”.

Đúng vậy, cuộc đời chính trị của một chính khách ít có ai  phải vượt qua nhiều vũ môn như thế. Những bước ngoặt thử thách khốc liệt diễn ra liên tục từ năm 1940 đến 1997, ông vượt qua để trở thành nhân tài quân sự; chính trị; kinh tế; và đối ngoại kiệt xuất của Việt Nam trong thế kỷ 20. . Xin được trích dẫn một đoạn viết khá khái quát về thủ tướng Võ Văn Kiệt của nhà báo  Huy Dức như sau: “Tháng 12-1981, ông được điều ra Hà Nội làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ Nhiệm Uỷ ban Kế Hoạch. Năm đó, ông đã 59 tuổi, thế nhưng theo ông Việt Phương, một “sỹ phu” có tiếng của “Bắc Hà”, người nhiều năm làm Trợ lý cho Thủ ttướng Phạm Văn Đồng và sau đó là Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Khi đó sức bật của ông vẫn mạnh. Ông làm Kế hoạch chỉ sau một thời gian, anh em trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa rất chịu”.

Mười năm sau khi ra Hà Nội, năm 1991, ông Võ Văn Kiệt trở thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, người đứng đầu Chính phủ theo cách gọi của Hiến Pháp 1980. Đường hướng phát triển kinh tế lúc đó vẫn đang còn phải mò mẫm. Tốc độ tăng trưởng rất thấp, lạm phát vẫn còn ở mức 67%. Cũng năm đó, Liên Xô tan rã, nguồn ngân sách mất 1/3 từ viện trợ của Liên Xô và các nước Đông Âu cũ; thị trường truyền thống mất. Thật khó đánh giá sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ lúc đó là một bi kịch hay thời cơ. Khối SEP tan rã, nước XHCN Trung Quốc khi đó vẫn chưa bình thường hoá quan hệ với Việt Nam; Mỹ và Phương Tây vẫn còn cấm vận… Lần đầu tiên, Việt Nam phải tự mình quyết định mọi công việc và quyền lợi cho chính đất nước mình. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đóng một vai trò rất lớn. Ông tích cực xoá quan liêu bao cấp, tích cực xây dựng những thể chế pháp lý theo hướng thị trường. Và, với một gương mặt hết sức thân thiện, với một nụ cười hết sức cởi mở, ông mang ra Thế Giới những thông điệp mới về Việt Nam, một Việt Nam cầu thị và khát khao phát triển. Năm 1992, Mỹ bỏ cấm vận, năm 1994, Mỹ bình thường hoá quan hệ; năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN… Khi ông thôi Thủ tướng, tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 8%. Việt Nam huy động được 8,5 tỷ ODA và 28 tỷ đầu tư nươc ngoài.”

Nội các chính phủ rồi cũng kết thúc theo nhiệm kỳ, lịch sử rồi cũng sang trang;  thế chế và thời đại cũng chuyển tiếp; chỉ còn lại mãi mãi tấm lòng,  công lao, ơn đức của những nhân tài, hiền triết trong dòng chảy nhân sinh. Phải chăng rồi đây không còn ai nhớ học thuyết, chức vụ, mà cả dân tộc đều ghi khắc thêm một huyền thoại bất tử – huyền thoại Võ Văn Kiệt?!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: