Trò chuyện với con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn

Trò chuyện với con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn

Kỳ 2: Ông có hiểu cha mình không?

Cập nhật lúc 10:05, Thứ Sáu, 28/04/2006 (GMT+7)
,

(VietNamNet) –Tôi nghĩ, có lẽ đã đến lúc một số biên bản cuộc họp Bộ chính trị thời đó có thể công bố để lịch sử có thể sáng rõ hơn; và con cháu có thể thấu hiểu những điều mà cha ông họ từng trải qua để có được như bây giờ. Và có thể, đó cũng là bài học cho hậu thế…”

Tiếp tục cuộc trò chuyện với ông Lê Kiên Thành về vị trí của cố Tổng bí thư Lê Duẩn trong các sự kiện lịch sử quan trọng như 1968,1975… Vì chưa có dịp kiểm chứng nên tòa soạn và phóng viên không khẳng định những vấn đề liên quan đến tư liệu lịch sử trong phần trả lời của nhân vật là quan điểm của mình. Nếu thấy chưa thỏa đáng, độc giả có thể tranh luận lại với nhân vật đối thoại và chúng tôi sẽ lựa chọn để đăng tải.

Kỳ 1: Trò chuyện với con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn

– Điều gì ở cha mình khiến ông ngưỡng mộ nhất?

– Đó là phương pháp tư duy, và cách phân tích sự việc. Ông từng nhắc với tôi câu nói của Lênin: Phân tích sự việc bằng trí óc, nhưng hành động bằng trái tim. Ông cho rằng: Khi trái tim mình đập đúng, thì mình phải hiểu được nó. Ví dụ, khi yêu đất nước đến vô cùng, đến mức trái tim chỉ có thể đập vì nó, người ta lại có những quyết định khác thường, những quyết định xuất phát từ những suy luận khác thường và không theo quy luật bình thường…

Cố TBT Lê Duẩn và các con trai năm 1983. Anh Lê Kiên Thành đứng thứ 2 từ phải sang. Ảnh tư liệu gia đình.

Một người bạn Mỹ nói với tôi: trong chiến tranh, suy cho cùng thì vật chất lớn hơn thắng vật chất nhỏ hơn, không chứa đựng yếu tố tinh thần. Anh ta dẫn lời Napoleon nói: Chúa chỉ đứng về kẻ mạnh. Tôi nói rằng, cha tôi đã nhìn thấy trong quy luật của sức mạnh đó có những điều lạ kỳ: Trong chiến tranh có những lúc A lớn hơn B, nhưng 2A lại chỉ bằng 2B và 3A lại nhỏ hơn 3B. Yếu tố tinh thần đã tạo ra một sức mạnh vật chất chống lại quy luật của sức mạnh vật chất vẫn tồn tại trên thế giới bình thường. Bình thường, sức mạnh tinh thần đó chưa đủ làm nên sức mạnh vật chất cụ thể, nhưng khi được khơi dậy và tổ chức lại một cách khoa học thì sức mạnh tinh thần đó có thể biến thành một sức mạnh vật chất phi thường. Vì thế mà duy nhất người Việt Nam hạ được B52 của Mỹ trong chiến tranh vừa qua.

Khi sang Mỹ, chứng kiến sự hùng mạnh của họ, tôi rất tự hào mình là người Việt Nam; và tôi hiểu rằng mình phải mạnh như thế nào thì mới thắng được Mỹ.

– …Và vì những suy luận không theo quy luật bình thường đó mà trong suốt hai mươi năm, cha ông đã từng có những hành động quyết đoán vì mục đích thống nhất đất nước?

– Sau này, cha tôi có kể lại cho chúng tôi nghe kỷ niệm về một lần ông dám… nói dối TƯ, nhưng là nói dối vì toàn cục, vì mục đích thống nhất đất nước. Đó là năm 1959, ông sang Trung Quốc và Liên Xô xin ý kiến về việc đánh Mỹ nhưng bị cản rất dữ dội. Họ có lý của họ vì cho rằng Mỹ rất mạnh, không chừng nếu đánh thì không những không giải phóng được miền Nam mà còn mất cả miền Bắc, thậm chí có thể gây ra thế chiến thứ III, còn việc thống nhất đất nước thì cần phải có thời gian lâu dài hơn nữa.

Thế nhưng, là người nắm vững quy luật của Cách mạng Việt Nam, càng để lâu, máu xương của đồng bào càng đổ nhiều, ông quyết định thưa với Bác và TƯ: “Các đồng chí ấy ủng hộ…”

Và sau này, việc ông nói trong một cuộc họp: “Chúng ta không được sợ Trung Quốc, Liên Xô, không sợ Mỹ” cũng đã khiến TƯ lúc đó bị sốc. Trong một cuộc họp khác, ông Hoàng Văn Hoan đã đứng lên chất vấn: “Thưa Bác tôi muốn anh Ba giải thích lại là tại sao trong cuộc họp trước, anh Ba lại nói là không được sợ TQ, không được sợ LX – có nghĩa là gì?” Nghe thế, ông Nguyễn Chí Thanh vụt đứng dậy nói: “Thưa Bác, điều anh Ba nói là rất đúng và cực kỳ cần thiết”. Tất cả mọi người đều vỗ tay.

Khi đã vượt qua sự khó khăn ban đầu bằng tinh thần độc lập tự chủ và thái độ kiên quyết, về sau, chúng ta đã nhận được sự ủng hộ toàn diện và mạnh mẽ của Liên Xô và Trung Quốc.

Tôi nghĩ, có lẽ đã đến lúc một số biên bản cuộc họp Bộ Chính trị thời đó có thể công bố để lịch sử có thể sáng rõ hơn và con cháu có thể thấu hiểu những điều mà cha ông họ từng trải qua để có được như bây giờ. Và có thể, đó cũng là bài học cho hậu thế.

Năm 1972, khi Trung Quốc đón Nich-xơn thì Chu Ân Lai sang gặp cha tôi ở Gia Lâm. Ban đầu, câu chuyện của hai người khá căng thẳng. Chu Ân Lai nói là chúng tôi sẽ “bàn về vấn đề VN với Ních xơn”, cha tôi rất gay gắt, ý là: Mỹ muốn nói về VN thì sang Hà Nội nói chuyện. Người Việt Nam tự quyết định vận mệnh của mình và không ai có thể làm điều đó thay chúng tôi…

Theo tôi được biết, lúc đó Thủ tướng Chu Ân Lai đã xin lỗi. Sau khi gặp Nich-xơn, thủ tướng Chu Ân Lai lại sang Việt Nam và thông báo tình hình sẽ thế này, thế kia. Nghe xong, cha tôi nói: “Tôi chỉ biết trước một điều là sau khi Nich-xơn gặp các đồng chí, Mỹ sẽ đánh chúng tôi gấp 10 lần”.

Dự đoán đó đã đúng. Sau đó, Mỹ đã rải bom khắp các thành phố lớn và làng mạc miền Bắc.

Người ta vẫn nói rằng, vì cha tôi mà quan hệ Việt Nam và Trung Quốc xấu đi. Thế nhưng, họ không biết rằng, năm 1961, tại Đại hội 81 Đảng cộng sản tổ chức tại Mátxcơva, Kholosop đưa ra những ý kiến trong đó phê bình gay gắt Đảng cộng sản Trung Quốc. Tại cuộc họp đó, duy nhất Đảng Lao động Việt Nam mà cha tôi là trưởng đoàn, đứng lên phản đối. Sau đó, đại diện Đảng cộng sản Pháp có đến gặp và nói: “Các đồng chí Việt Nam chỉ biết có quyền lợi dân tộc mà xao nhãng tinh thần quốc tế vô sản”. Cha tôi trả lời: “Tinh thần quốc tế vô sản lớn nhất bây giờ là chống Mỹ, các đồng chí hãy để chúng tôi làm việc đó”.

– Anh đánh giá thế nào về chiến dịch Mậu Thân năm 1968? Sự kiện đó có mang một phần tính cách của cha anh không?

– Bản chất sự kiện năm1968 tự nó đã nói lên một phần tính cách đó rồi. Cha tôi nói rằng đó là một quyết định khó khăn nhất nhưng được tính toán kỹ lưỡng và mang tính quyết liệt nhất. Ông nhận định đó là thời điểm mà nước Mỹ đứng trước 2 sự lựa chọn, một là Oét-mô-len đề nghị tăng gấp đôi số quân lên, chiến tranh không dừng lại ở miền Nam, mà đánh ra một vài điểm miền Bắc; thứ 2 là người Mỹ cho rằng không thể thắng được nữa và phải ra đi.

Và chúng ta đã quyết định đánh một trận lớn đến mức mà người Mỹ không thể tưởng tượng được. Những chiến binh của mặt trận giải phóng đã có mặt tại đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn. Chính người Mỹ sau này cũng nói rằng đó là trận đánh không phải vào Sài Gòn mà vào tận Washington. Để làm được điều đó, chúng ta phải chấp nhận những hi sinh, mất mát to lớn.

Sau này ông Trần Bạch Đằng có nhắc lại một câu của cha tôi là: “Đó là một trận đánh làm tung tóe những yếu tố chính trị mới”. Đó là trận đánh mà theo tôi nên đưa vào kinh điển lịch sử nghệ thuật chiến tranh. Rõ ràng là sau đó dẫn đến việc nước Mỹ đã rút quân. Cha tôi từng nói trong Thư vào Nam rằng chúng ta không bao giờ thắng được Mỹ ở nấc thang đỉnh cao của chiến tranh, nghệ thuật của mình là kéo Mỹ xuống thang và thắng ở nấc thang cuối cùng. Không làm nhục nước Mỹ thì chúng ta mới thắng được và Mỹ mới chấp nhận cái thắng đó. Chiến dịch 1968 là trận đánh kéo Mỹ xuống nấc thang cuối cùng để dẫn tới sự kiện 1975.

– Cha anh có phải là người quyết định đánh vào Buôn Mê Thuột trong chiến dịch 1975?

– Chuyện này bây giờ vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng theo tài liệu của tướng Dũng thì đó là quyết định của cha tôi. Và ban đầu, khi Đại tướng Văn Tiến Dũng đưa chỉ thị đó vào miền Nam, nhiều tướng lĩnh ở đó đã phản đối. Họ nói rằng các ông ngoài Bắc không hiểu được hoàn cảnh thực tế ở trong này, chúng ta từng dùng một sư đoàn chỉ đánh một quả đồi thôi còn không nổi, làm sao đánh được vào thị xã lớn? Thậm chí có người còn định xin một chiếc trực thăng ra báo cáo TƯ rằng đây là quyết định sai. Nhưng tướng Dũng bảo: Đây là quyết định của anh Ba và Bộ chính trị, chúng ta phải làm cho bằng được.

Ông Trần Quỳnh từng nói: Anh Ba là người sáng có thể nói khác, chiều có thể quyết định khác, ý nói ông rất biện chứng và nắm bắt được thời cuộc. Ông Trần Quỳnh nói: Tôi gần anh Ba tôi biết, khi ăn cũng nói đến miền Nam, ngủ nghĩ đến miền Nam. Khi con người say mê với chuyện gì, họ luôn có những ý tưởng hết sức sáng tạo về nó.

– Có thể vì những chuyện như thế mà có lời đồn rằng, cha anh đã từng nắm hết quyền lực trong Đảng sau năm 1959? Anh có nghe những lời đồn như thế và cha anh khi sinh thời có biết những lời xì xào như thế không?

– Sau ngày miền Bắc sai lầm trong cải cách ruộng đất, Bác Hồ đã kiên quyết gọi cha tôi ra để giao trọng trách Tổng Bí thư. Và cha tôi đã từng ngạc nhiên bởi khi đó chỉ có mình ông là ủy viên TƯ ở miền Nam và không phải là người gần Bác nhiều. Không những thế, Bác còn đề nghị cha tôi giữ thêm nhiều trọng trách nhưng ông không nhận.

Lê Kiên Thành (phải) và Võ Điện Biên (con trai Tướng Giáp) năm 1975 . Ảnh tư liệu gia đình.

Tôi nghĩ rằng trong cán bộ, Đảng viên chẳng có ai đồn như bạn hỏi.

Nếu có thì sau này, người ta cũng chỉ phân tích lại quá trình để chúng ta bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ mà trong đó ý kiến của cha tôi có sự tác động nhất định đến sự thay đổi cục diện.

Bây giờ cuộc kháng chiến đã thành công, mọi chuyện có vẻ dễ hiểu. Thế nhưng ở thời điểm bắt đầu, thì không phải mọi người đều thống nhất với con đường đi đó mặc dầu ai cũng muốn thống nhất đất nước. Lý do là vì ở thời điểm bắt đầu, Liên Xô và Trung Quốc đã cản rất dữ dội, vì sợ rằng sức mình không thể làm được điều đó.

Nhưng điều quan trọng là với khả năng của mình, ông đã thuyết phục được và cả quyết đoán nữa để có kết quả của cuộc kháng chiến như năm 1975. Nếu nói rằng “tiếm quyền” thì hóa ra là toàn bộ cuộc kháng chiến này do cha tôi lãnh đạo hết à? Như thế thì không phải là phê phán ông nữa mà là đã đánh giá công lao của cha tôi lớn quá.

Những học giả phương Tây thì đánh giá thời điểm đó, Bộ Chính trị có quan điểm khác với Tổng bí thư Lê Duẩn và những đường lối quyết định nhất của cuộc chiến là do cha tôi vạch ra.

Còn tôi hiểu rằng cha tôi là người có khả năng thuyết phục số đông.

– Quan hệ của cha anh với Tướng Giáp thế nào?

– Tôi chỉ dẫn một câu mà mà Tướng Giáp hay nói với cha tôi: Đời tôi đi làm cách mạng là nhờ anh Ba. Cha tôi thì nói lại là: Những gì mà tôi giúp anh là vì tôi nhớ đến người vợ đầu của anh.

Chuyện là thế này, trong lúc cha tôi bị tù, có một người tù khác đã ném cho ông mẩu giấy nói rằng ở ngoài sắp sửa làm bạo động Nam kỳ; mảnh giấy đó bị rơi ra ngoài và một sĩ quan Pháp nhặt được. Ông hiểu rằng người Pháp sẽ xử bắn bất kỳ người nào dính đến cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Lúc đó ông nhờ bà Thái (Nguyễn Thị Quang Thái – người vợ đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – NV) nói chuyện với viên sĩ quan kia để lấy lại mẩu giấy đó. Nhờ sự khéo léo và vốn tiếng Pháp của mình, bà Thái đã lấy lại được cái thư, tức là đã cứu sống ông.

– Sau khi Bác Hồ mất thì mối quan hệ của cha anh với ông Trường Chinh và ông Phạm Văn Đồng như thế nào?

– Tuyệt đối tốt.

– Và họ coi ông là lãnh tụ?

– Họ coi cha tôi là một trong những lãnh tụ  từ ĐH III, năm 1960.

– Những yếu tố để họ coi ông là lãnh tụ?

– Tôi nghĩ là có nhiều yếu tố lắm, như hồi trong Nam thì người ta gọi ông là “ông 200 ngọn nến” vì những ý kiến của ông rất sáng láng.

Cha tôi thường nói: Trong quá trình ba làm việc chưa bao giờ ba thấy ai cao hơn ba và chưa bao giờ ba thấy ai thấp hơn ba. Tôi nghĩ, có lẽ, đó là nguyên nhân khiến ông để lại dấu ấn trong lịch sử. Kể cả Mao Trạch Đông, Khrushop, những người mà tất cả những người sống thời đó đều cảm thấy sức nặng của họ. Thế nhưng, khi gặp, cha tôi cảm thấy không hề bị ngợp. Và rồi, khi nói chuyện với những người như bọn tôi chẳng hạn, chưa bao giờ ông đối xử theo kiểu cha – con mà theo cách của những người bạn với nhau.

Ông kể, một lần vào một lớp học ở miền Nam sau ngày giải phóng, có một cô bé hỏi ông một vấn đề gì đó về xã hội, ông lớn tiếng nói lại với cô bé. Cả hiệu trưởng lẫn những người có mặt ở đó đều sợ run lên, tưởng ông đang nóng giận. Nhưng sau đó, ông nói với cô bé: “Bác nói với cháu như vậy, là bác coi cháu như đồng chí của bác”. Mọi người vỗ tay hết.

Nếu như người khác, sẽ nói: Cháu ngồi xuống đi, chuyện này cháu chưa biết được đâu”, thì đó là mức độ thấp. Nhưng với như cương vị là một Tổng Bí thư mà tranh luận gay gắt với một cô bé học sinh, thì đó là sự tôn trọng. Qua đó cha tôi muốn nói với các con một điều: Đừng bao giờ thấy người nào cao hơn mình, nhưng cũng đừng bao giờ thấy ai thấp hơn.

Người ta ghi nhận công lao rất lớn của cha anh trong công cuộc giải phóng miền Nam. Nhưng cũng có dư luận nói rằng: Những ý tưởng về kinh tế của ông bị ảnh hưởng từ Liên Xô đã biến cả nước thành một đại công trường, đại nông trường; Chính điều đó làm cho đất nước lẽ ra có thể phát triển hơn sau 1975. Ý kiến của anh về chuyện này?

(Xem tiếp kỳ sau)

  • Lương Bích Ngọc (thực hiện)

Đón đọc kỳ 3: Làm chủ tập thể và “đêm trước đổi mới”?

http://vietnamnet.vn/psks/2006/04/565499/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: