ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN

http://llct.cntp.edu.vn/index.php/danh-nhan-dat-viet/89-tieusudtletrongtan

ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN


TIỂU SỬ

ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN

Đại tướng Lê Trọng Tấn  

      Đại tướng Lê Trọng Tấn (1/10/1914 – 5/12/1986), nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

     Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Quân công hạng Nhất hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.“Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

 ‘’Đây có phải là tướng đánh trận giỏi nhất ở Việt Nam không’’ (Chủ tịch Phidel, khi gặp Tướng Lê Trọng Tấn trong lần Chủ tịch ra thăm chiến trường Quảng Trị) “Trí – Dũng – Nhân – Chính – Liêm – Trung”, “Rộng lượng và Hào hiệp”, “Tài năng, Cương trực”, “Đức độ, Tài ba”, “Quyết đoán, Nhân nghĩa”, “Người chỉ huy ưu tú, kiên cường, người thủ trưởng có tình thương chân thành, chăm sóc anh em với tình cảm của người anh, người mẹ” (Đây là tất cả những lời tốt đẹp nhất mà các Sĩ quan cao cấp dành cho ông)

   Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn…Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

   Ham mê bóng đá và võ nghệ từ nhỏ, khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An ở Hà Nội) ông đã được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ.

   Đại tướng Lê Trọng Tấn tham gia Việt Minh từ năm 1944. Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai-Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ông là thành viên trong Ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa tỉnh Hà Đông được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng Lực lượng vũ trang tại Ứng Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông).

   Quê ông có 4.593 nhân khẩu, nạn đói năm 1945 làm chết đói gần một nửa. Ông đã tổ chức phá kho thóc, chia gạo cho nhân dân Do Lộ vượt qua nạn đói khủng khiếp.

   Tháng 8 năm 1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông phụ trách Quân sự – bởi những hiểu biết về quân sự có được trong thời gian ông làm lính khố đỏ, ông nhập ngũ từ thời điểm này. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. 

   Trong những ngày toàn quốc kháng chiến mùa Đông năm 1946, ông chỉ huy một tiểu đoàn (Tiểu đoàn 60, Trung đoàn 37 ?) chiến đấu tại mặt trận Hà Đông – một cửa ngõ quan trọng phía Tây Thủ đô. Ông tổ chức diệt bốt Đồng Quan và giành thắng lợi trận đầu tiên.Tháng 12-1945, ông được kết nạp vào Đảng. Những trận đánh hay, thắng lợi giòn giã của Hà Đông đều có ông, tổ chức cho từng trận đánh vừa củng cố, vừa xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh.

   Sau Tết Đinh Hợi 1947, Bộ Tổng Tham mưu điều một số đơn vị Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Hải Phòng… cùng một lực lượng khác thuộc Chiến khu 2 gấp rút lên miền Tây, tăng cường cho khu vực biên giới Việt-Lào để giữ vững hướng chiến lược này. Ngày 27-2-1947, Trung đoàn Tây Tiến (E52) được thành lập gồm 4 tiểu đoàn và ông là một trong những chỉ huy tiểu đoàn cùng với các ông Phùng Thế Tài, Nam Hải, Hoàng Mười…Tiếp theo đó ông lần lượt giữ chức vụ Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn Sơn La (E148) rồi Trung đoàn Sơn Tây (E37)

   Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng Khu XIII khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây. Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu phó Khu X.

   Ngày 16-4-1949, Ông tham gia dự buổi lễ thành lập Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được thành lập tại Liên khu X cùng với ông Cay-xỏn Phôm-vi-hản (Sau này là Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Đây cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Pathét Lào. Ông là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt – Lào tổ chức đánh các trận ở Thượng Lào, Hạ Lào, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, cánh đồng Chum, giải phóng và xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân Lào.

   Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, trung đoàn 209, chủ lực của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu trung đoàn Sông Lô. Lê Trọng Tấn khi đó là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy

   Từ ngày 19/5 đến ngày 18/7 năm 1949, ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Sông Thao. Chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào phòng tuyến sông Thao của Pháp ở khu vực Yên Bái, Lào Cai, nhằm diệt sinh lực, phát động chiến tranh du kích, mở rộng khu căn cứ Tây Bắc. Chiến dịch Sông Thao gồm ba đợt kết thúc thắng lợi đã làm tiêu diệt và bức rút 25 cứ điểm, loại khỏi chiến đấu gần 500 địch, thu hơn 300 súng, phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Thao từ Ba Khe đến Bảo Hà (khoảng 70 km), tạo thế liên hoàn nối liền vùng tự do của ba tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. 

   Tháng 11 năm 1949, để mở thông đường liên lạc, vận chuyển từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, 4 đồng thời thu hút lực lượng địch đang tập trung càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Lê Lợi trên chiến trường tỉnh Hòa Bình. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm từ chợ Bờ lên Suối Rút (ông Hoàng Sâm là Tư lệnh chỉ huy từ Hồi Xuân lên Mai Hạ và ông Lê Quang Hòa là Chính ủy). Kết quả Bức tường quân Pháp ngăn chặn giữa Việt Bắc và Liên khu 3, 4 bị đập tan, toàn huyện Mai Châu được giải phóng. Âm mưu lập xứ Mường tự trị bị phá sản.

   Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi.

   Tháng 9 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa Việt Nam với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch đồng thời ông là chỉ huy của trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động Sác-tông của Pháp.

   Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là Đại đoàn đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam (Béatrice) (ngày 13 tháng 3 năm 1954) khiến cho thiếu tá Pégrot bị tử thương cùng với toàn bộ sĩ quan trong hầm. Ngày 7/5/1954, trong đợt tiến công cuối cùng, một đơn vị của Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn của ông cùng với một đơn vị thuộc Trung đoàn 174 đã bắt sống tướng Đờ Cát và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

   Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là thời kì hết sức quan trọng nhằm đào tạo nguồn cán bộ quân sự chi viện cho miền Nam chuẩn bị cho Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

   Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1962 ông giữ cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

   Tháng 9 năm 1964, để chuẩn bị đánh Mỹ, cùng với Đại tướng Nguyễn Chí      Thanh, ông được cử vào Nam nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam cho đến năm 1969. Ông là một trong các vị tướng tham gia tổ chức Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.

   Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Đặc phái viên Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạch Bộ chỉ huy Quân Giải phóng nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo cánh đồng Chum.

   Ngày 30-1-1971, Quân đội Mỹ kết hợp với Quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra đường số 9 và Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn và chặn phá đường mòn Hồ Chí Minh. Đối phương huy động tới hơn 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, chia làm 3 hướng: cánh quân chủ yếu vượt qua Lao Bảo đến Bản Đông; hai cánh còn lại dùng trực thăng đổ bộ xuống các điểm cao bên đường 9, đồng thời tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”…Quân ủy Trung ương đã chủ động mở Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (Mật danh 720) để đối phó, khiến cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ thế chủ động sang thế bị động phải rút lui. Ngày 7-3-1971, khi nghe báo cáo “Việt Nam Thông tấn xã báo cho Cục Tuyên huấn là ngụy Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa phóng viên báo chí phương Tây đến Sê Pôn…”. ông đã nói ngay: “Địch sắp rút”… Và ngay hôm sau, lời kêu gọi của Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận đã được truyền xuống các đơn vị: “Thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận đã đến! Diệt và bắt sống thật nhiều địch! Phá hủy thật nhiều phương tiện chiến tranh của chúng! Đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719! Bảo vệ vững chắc con đường mang tên Bác, giành toàn thắng cho chiến dịch”…Mười ngày tiếp đó, từ các mũi, hướng, bộ đội dồn dập tấn công. 18-3-1971, đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy, và cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã bị đập tan!

   Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị với mật danh anh Trọng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị 1/5/1972.

   Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1, là Quân đoàn bảo vệ miền Bắc. 

   Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng. Đánh tan Quân đoàn I, Quân khu I Việt Nam Cộng hòa khi mà tại căn cứ Liên hợp Quân sự Đà Nẵng họ còn tới gần 10 vạn quân cộng với vũ khí hiện đại.

   Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Chính trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bằng óc phán đoán và đầu óc phan tích chiến lược, ông đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G để cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên.

   Từ năm 1976 đến tháng 2 năm 1977 ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện quân sự cao cấp. 

   Từ tháng 6 năm 1978 đến năm 1986 ông là Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

   Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 2 năm 1979 ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ của Pol Pot ở Campuchia.

   Mùng 1 tháng 7 năm 1983, 70 tuổi, ông vẫn chỉ huy trận đánh bảo vệ Biên giới phía Bắc. 

   Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 4 và 5 (từ 1976 đến 1986), đại biểu Quốc hội khóa VII.

   Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công và thường ví ông như nguyên soái Giucov của quân đội Liên Xô. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm chiến lược, chiến thuật, kiệt xuất của QĐND Việt Nam. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh, nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.

Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các quân đoàn do ông chỉ huy đều đoàn kết một lòng một dạ tin tưởng, vững tâm vào tài năng, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán cho từng trận đánh. Kẻ thù nghe tin tướng Ba Long chỉ huy chiến dịch nào đều sợ hãi, hoảng loạn, co cụm, bạc nhược và tê liệt sức chiến đấu, đó là uy quyền của một dũng tướng. Thắng lợi trong những trận đánh, tất yếu có sự hy sinh đổ máu. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Vì đây là sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ.

Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh trên cả 2 miền Nam – Bắc. Dấu ấn 2 mốc son lịch sử của ông năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng F312 đã chỉ huy tham gia chiến dịch Điện Biên lịch sử, đánh phía Đông vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh độc lập, cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tướng Dương Văn Minh, phải đầu hàng vô điều kiện. 

Hai trận đánh, hai mốc son lịch sử đã kết thúc hai cuộc chiến tranh với quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Mở ra kỷ nguyên mới, hòa bình, thống nhất độc lập và tự do của dân tộc. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng. 

Lê Trọng Tấn, một vị tướng tài năng có kinh nghiệm và kiến thức khoa học quân sự. Chiến dịch giải phóng miền Nam, ông đã chỉ huy vài vạn quân với hàng nghìn xe các loại, hợp đồng ba thứ quân và các binh chủng, vượt qua hàng nghìn cây số, vượt 500 con sông, đến đúng giờ quy định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần quyết định thắng lợi ngày 30-4-1975. Với chiến thuật đánh chắc thắng chắc, bao vây giỏi, chiếm từng phần, đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, trong đánh ra ngoài đánh vào, khống chế điểm mạnh, đánh điểm yếu của địch, diệt từng phần, chớp thời cơ, tiêu diệt toàn bộ sinh lực của địch. Đã đúc kết được 6 nội dung là: Vây lấn, tấn, phá, triệt, diệt có giá trị cho lịch sử khoa học quân sự Việt Nam.

Không thể kể hết công trạng quá dài của ông, người ta chỉ có thể ghi nhận điều cốt yếu: ông luôn được tin cậy để giao nhiệm vụ gầy dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông từ Bắc-Nam-Trung, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pôn Pốt hay bảo vệ biên giới phía bắc, lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Từ vai trò Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân cho đến Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, Giám đốc Học viện chính trị cao cấp Bộ Quốc phòng, ông là người thầy xứng đáng cho những sĩ quan thế hệ sau. Nhưng đáng nói hơn, ông là tướng tư lệnh của tất cả những chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng…; chiến dịch Đường 9 Nam Lào, mặt trận Trị Thiên mùa hè 1972; tư lệnh cánh quân duyên hải, khai sinh sau khi Đà Nẵng giải phóng, đến Sài Gòn sớm nhất vào mùa xuân 1975… 70 tuổi Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận. 

“Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doanh

Sáng họp… tối đi… sao vội thế anh?

Đại hội chưa xong… anh lên đường

Như xưa kia Bác Hồ điện gấp

Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập

“Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách

Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh”

Sáng như trời sang xuân

Tối như mùa đổi tiết…”.

(Đại tá NSND Tào Mạt)

Mưu trí nhưng thận trọng, ông luôn tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất cho binh sĩ. Với sĩ quan thuộc cấp, ông chân thành thương yêu nhưng không cho phép sai sót. Ông là vị tướng “biết dùng quân, luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân”. Là một vị tướng chiến trường nổi tiếng nhưng ông cũng là một người có đầu óc chiến lược. Một vị tướng chiến lược mà vóc người thanh mảnh, nói năng nhỏ nhẹ như thầy giáo làng quê mà ta thường gặp, rất dễ gần gũi.

Bộ môn Lý luận Chính trị (st)

 

Đại tướng Lê Trọng Tấn – Cuộc ra đi vội vã

 

http://tapchihuongnghiep.com.vn/PrintPreview.aspx?ID=4156

Đại tướng Lê Trọng Tấn – Cuộc ra đi vội vã  

 

Đại tướng Lê Trọng Tấn 

Vị tướng hiền tài chia tay với toàn quân trong lần cuối cùng vào ngày 5-12-1986. 26 năm rồi mà thương nhớ vẫn đầy, vơi…

Đại tướng Lê Trọng Tấn quê ở xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức (nay là phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội) nhưng từ nhỏ sống ở tổng Thanh Nhàn (nay là khu Đầm Trấu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Ông có một tuổi thơ nghèo khó và cơ cực. 7 tuổi mồ côi cha, ông vừa đi học vừa kiếm sống bằng nhiều nghề, từ cắt chữ cho một nhà in đến vẽ truyền thần và cả đi bán bánh mì. Dù phải vất vả bươn chải nhưng ông rất mê đá bóng. Nhiều bữa ông ra bãi Phúc Xá gần cầu Long Biên đá bóng đến tối mịt mới về. Thấy ông đá bóng giỏi, không quân Pháp đã tuyển ông vào lính và giao cho làm đội trưởng đội bóng. Lúc này, Mặt trận Việt Minh đang phát triển rộng khắp. Biết ông là con một nhà nho nghèo, yêu nước, bị bắt ép vào lính nên Đảng và Việt Minh đã cử người giác ngộ. Đầu năm 1944, ông bỏ Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp tham gia cách mạng. Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai, Hà Nội. Sau đó, tham gia Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông, phụ trách quân sự. Tại đây, ông đã dùng mưu kế, chỉ huy đội tự vệ chiếm đồn Đồng Quan, gây thanh thế cho cách mạng và lấy thóc để cứu đói dân. Chiếm đồn Đồng Quan chỉ với hai khẩu súng và diễn ra có vài phút mà không mất một viên đạn đã hé lộ phẩm chất một tài năng quân sự của tướng Lê Trọng Tấn.

Từ Đồng Quan đến Điện Biên Phủ rồi Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, biên giới Tây Nam, phía Bắc là một chặng đường lịch sử mà Đại tướng Lê Trọng Tấn cùng nhiều tên tuổi lớn, nhiều tướng lĩnh tài ba khác của đất nước và quân đội ta đồng hành cùng dân tộc trong cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc. Từ một chỉ huy phân đội, trung đoàn, phát triển lên Đại đoàn trưởng, rồi Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ông là vị tướng trận mạc, luôn có mặt ở những chiến trường gai góc và nóng bỏng nhất, có khả năng xoay chuyển cục diện trận đánh, “biểu trưng cho những quả đấm thép của Quân đội nhân dân Việt Nam” (nhà sử học Dương Trung Quốc). Ông được cán bộ, chiến sĩ yêu mến gọi là “Giu-cốp của Việt Nam”.

Có một điều đặc biệt, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Lê Trọng Tấn chỉ huy Đại đoàn 312, từ cánh quân phía Đông đánh vào trung tâm sở chỉ huy địch ở Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là đại đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ trận mở màn đến khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ. 21 năm sau, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, cũng từ phía Đông, ông là Tư lệnh hướng quan trọng này, bắt sống hai tướng ngụy, sau đó đánh, chiếm hoàn toàn dinh Độc Lập, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Với hai chiến công ấy, Lê Trọng Tấn xứng đáng hai lần anh hùng”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông luôn được Bộ thống soái tối cao tin cậy trao cho trọng trách lớn, là tư lệnh ở hầu hết các chiến dịch then chốt, quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng – Dầu Tiếng, Đường 9 – Nam Lào, mặt trận Trị – Thiên 1972, cánh quân duyên hải 1975… Tháng 9-1964, trên chiếc tàu buôn tỏi của nước ngoài, ông và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được đặc phái vào Nam để “giải bài toán” đánh Mỹ. Ông nhận nhiệm vụ Phó Tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam. Không lâu sau, chiến dịch Bình Giã nổ ra, chiếc lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bị lung lay tận gốc; phong trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, “bám thắt lưng địch mà đánh” lan rộng khắp các chiến trường.

Ông là vị tướng có sự nhạy cảm đặc biệt. Đầu năm 1971, địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra Đường số 9 và Nam Lào, nhằm tiến đánh Sê Pôn và chặn phá đường Hồ Chí Minh. Chúng huy động tới 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, ngạo mạn tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”. Quân uỷ Trung ương đã chủ động mở chiến dịch Đường 9 – Nam Lào do Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và Lê Quang Đạo làm Chính ủy để đối phó, khiến đối phương từ thế chủ động sang thế bị động phải rút lui. Trong cuốn “Người lữ hành lặng lẽ”, nhà văn Hữu Mai viết: “Đạo đang ngồi trao đổi với Tấn thì Cục phó Tuyên huấn Hồng Cư rảo bước đi và

– Báo cáo các anh, Việt Nam thông tấn xã vừa báo cho Cục tuyên huấn là chính quyền Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa phóng viên báo chí phương Tây đến Sê Pôn. 

Lê Trọng Tấn suy nghĩ rồi nói:

– Địch sắp rút!

Đạo tin ở nhạy cảm của anh, người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm đã gắn liền với chiến trường trong cả hai cuộc kháng chiến. 

Tấn nói tiếp một cách quyết đoán:

– Phải chuẩn bị đánh địch rút lui!

Mười ngày tiếp đó, từ các mũi, hướng, ta dồn dập tiến công. 18-3-1971, đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch bị đập tan.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Lê Trọng Tấn là Tư lệnh chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Ông đã chỉ huy quân tiến đánh và làm chủ căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, đánh tan Quân đoàn 1, Quân khu 1 Việt Nam cộng hòa với 10 vạn quân và trang bị vũ khí hiện đại chỉ trong 3 ngày. Sau khi giải phóng Đà Nẵng, với sự nhạy cảm tình hình, ông đã đề nghị Bộ Tổng Tư lệnh thành lập cánh quân duyên hải. Thực tế đã chứng minh, đề xuất này là cực kỳ chính xác và đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, Lê Trọng Tấn đã chỉ huy cuộc hành quân thần tốc đưa một đạo quân gồm 4 vạn người với hàng nghìn xe pháo các loại, vượt qua chặng đường hàng nghìn km, xuyên qua 3 quân khu địch, vượt 50 con sông, 600 cầu, áp sát Sài Gòn, chuẩn bị tổng công kích. Tại đây, bằng óc phán đoán và phân tích chiến lược, Lê Trọng Tấn đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G làm cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên, bắt sống Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và nội các.

Cuối năm 1978, đầu năm 1979, ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Cam-pu-chia đánh quân Khơ-me Đỏ.

*

*                      *

 

 Đồng chí Lê Trọng Tấn (người ngoài cùng bên phải) tại Sở chỉ huy mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh Tư liệu

Khi cầm quân, Đại tướng Lê Trọng Tấn luôn được cán bộ, chiến sĩ dưới quyền tin tưởng, sẵn sàng cùng ông chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi. Thắng lợi trong từng trận đánh, tất yếu có hy sinh, đổ máu. Người mà ông nhớ nhất là những chiến sĩ đã hy sinh nơi chiến trận, mãi mãi không trở về. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Với ông xương máu của chiến sĩ là vô giá và luôn thận trọng tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất. Sau này mỗi khi có thời gian và điều kiện, ông trở lại chiến trường, đến các nghĩa trang thắp hương cho các liệt sĩ. Không ít lần, mắt ông đã đỏ hoe vì xúc động, thương tiếc đồng đội.

Có một câu chuyện ít người biết. Trong một trận đánh bảo vệ biên giới, ta không thành công. Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nhiều ý kiến và phê phán khá gay gắt về trận đánh này. Thủ tướng chất vấn: “Trách nhiệm này thuộc về ai?”. Dù không chỉ huy trực tiếp nhưng trước thất bại của trận đánh và sự hy sinh của chiến sĩ, Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn đứng lên trả lời: “Thưa anh, trách nhiệm thuộc về tôi – Tổng tham mưu trưởng”. Một hành động, một tấm gương của một vị tướng dày dạn trận mạc, lừng lẫy chiến công nhưng sẵn sàng dám chịu trách nhiệm, nhận lỗi cho cấp dưới khiến mọi người càng tin yêu, khâm phục.

Đại tá, GS – TS Lê Đông Hải, nguyên Viện trưởng Phân viện kỹ thuật quân sự phía nam, con trai duy nhất của Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn không nguôi nhớ những kỷ niệm về người cha của mình. Anh nói với tôi: “Tiếng là cha con nhưng tổng thời gian tôi được gần ông không quá hai năm”. Người gần gũi ông nhất chính là vợ ông – bà Nguyễn Thị Minh Sơn. Bà là người phụ nữ đảm đang, chăm chồng hết mực. Ngược lại ông cũng tôn trọng và thủy chung trước sau như một với bà. Ông đi chiến trường liên miên, bà ở nhà tảo tần thay ông phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con nhỏ. Đến khi ông đã là Đại tướng, Ủy viên Trung ương Đảng rồi, ở nhà bà vẫn còn nuôi lợn, trồng rau…

Đại tướng Lê Trọng Tấn đột ngột từ trần ngày 5-12-1986. Đồng chí, đồng đội và bạn bè quốc tế thương tiếc một vị tướng tài ba, đức độ. Báo Granma của Đảng cộng sản Cu-ba đăng trên trang nhất tin buồn và khẳng định: “Việt Nam mất một người anh hùng”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Đại tướng Lê Trọng Tấn – người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”. Nghệ sĩ Nhân dân Tào Mạt khóc ông: “Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doanh/Sáng họp… tối đi… sao vội thế anh?/Đại hội chưa xong anh lên đường/Như xưa kia Bác Hồ điện gấp/ Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập/ “Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách/Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh”/ Sáng như trời sang xuân/Tối như mùa đổi tiết…”. 

Trần Hoàng Tiến

 

Họ đã nói và viết những gì? tác giả: Lê Minh Khôi

http://bbqt.com/forum/index.php?/topic/12186-h%E1%BB%8D-%C4%91%C3%A3-n%C3%B3i-v%C3%A0-vi%E1%BA%BFt-nh%E1%BB%AFng-g%C3%AC/

Họ đã nói và viết những gì?
tác giả: Lê Minh Khôi
 

 

 
Nguyen-Ho.jpg
 
Nguyễn Hộ người có 55 tuổi đảng, Chủ Tịch Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương, thủ lãnh của Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến, viết trong tập hồi ký Quan Điểm Và Cuộc Sống: “Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Saigòn cũng là ngày tôi rời khỏi Đảng CSVN. Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại Tá QĐNDVN, hy sinh ngày 9/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng Nha Cảnh Sát Sài gòn vào tết Mậu Thân 1968 nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng Sản Chủ Nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sĩ nhục (nguồn: Wikipedia)”.
 
MinhCan-1.jpg
 
Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, nguyên Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Liên Sô, ghi lại tính tàn độc và lưu manh của Đảng Cộng Sản trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956: “Giết oan hàng trăm ngàn người, đầy ải hàng triệu người, làm cho đạo lý suy đồi luân thường đảo ngược. Tại cuộc mít tinh tối 29/10/1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác định được. Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại” (Nguyễn Minh Cần, Xin Đừng Quên Bài Học Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước)
 

trando.jpg

 

 

Trung Tướng Trần Độ, Cựu Phó Chủ Tịch Quốc Hội, viết: “Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”

 
Và trong một lần nói chuyện, khi được hỏi về chế độ lao tù, ông nói “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì chúng tôi chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục”.
 
Cuối cùng, để biện minh cho những đóng góp của mình vào chế độ, ông Trần Độ làm bốn câu thơ:
 
Những mơ xoá ác ở trên đời,
Ta phó thân ta với đất trời
Ác xoá đi, thay bằng cực thiện
Tháng ngày biến hoá, ác luân hồi.

(Nguồn: Trần Độ- Nhật Ký Rồng Rắn)
 
HoangMinhChinh150.jpg

 

Hoàng Minh Chính gia nhập đảng từ năm 1939, Phó Viện Trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện Trưởng Viện Triết học Mác-Lênin trong một bài phát biểu đã than thở rằng: “Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc. Ngay cả thời kỳ nô lệ, người dân ai muốn ra báo cũng chỉ cần nộp một giấy xin phép và bản lưu chiểu. Điển hình là cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp xử 13 năm tù về tội chống Pháp và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921 mới được trả tự do. Khi mãn hạn tù cụ được thả về Huế, tại đây, cụ đắc cử dân biểu năm 1926, rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ và đứng ra xuất bản tờ báo Tiếng Dân. Một người bị tù vì tội chống thực dân còn được thực dân cho ra báo trong khi đó một người từng nắm giữ chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội của chế độ mà xin phép ra một tờ báo cũng không được”. (nguồn: Wikipedia)

 
Cũng nên biết rằng năm 1946 cụ Huỳnh Thúc Kháng đã giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Nội Các Chính Phủ Liên Hiệp và giữ chức Quyền Chủ Tịch Nước trong khi Hồ Chí Minh đi Pháp tham dự Hội Nghị Fontainebleau. Như vậy không thể gán ghép cụ Huỳnh là Việt Gian hay nói cụ Huỳnh vì thỏa hiệp với Pháp nên đã được Pháp cho ra báo.
 
 
69492_a5.jpg
 
Trần Lâm sinh năm 1925 vào đảng năm 1947, Vụ phó Ủy Ban Kế Hoạch Nhà nước, thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, đã viết trong bài “Những dòng suy nghĩ từ Đại hội đến Quốc hội” số tháng 9/2007: “Đảng thì luôn nói Quốc hội là của dân, do dân, vì dân. Người hiểu biết trong dân thì coi Quốc hội là bù nhìn.Đảng và Nhà nước tổ chức bầu cử, biết đây là kiểu dàn dựng, nhưng cứ làm”.
 
TranQuocThuan.jpg
 
Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội CSVN, trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên: “Cơ chế hiện nay tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước… Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là tiền, dù số tiền bị mất lên đến hằng trăm tỷ, mà cái lớn nhất bị mất là đạo đức.Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo đức đó rất mất đạo đức”.
 
 
16_ngkhai75.jpg
 
 
Nguyễn Khải, nhà văn, Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS, đã viết trong “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất”: “Ngôn từ là mặt yếu nhất trong các lãnh vực thượng tầng cấu trúc tại các nước xã hội chủ nghĩa vì lãnh đạo các nước đó dùng ngôn từ để che đậy… Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ . Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo”.
 
 
bnnvtran.jpg
 
Nguyễn Văn Trấn, con hùm xám Chợ Đệm Mỹ Tho, Phụ Tá Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ (1944), Chỉ Huy Trưởng Kiêm Bí Thư Quân Ủy Quân Khu 9 (1947), Chủ Nhiệm Văn Phòng Phó Thủ Tướng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Thống Nhất Toàn Quốc (1962-1974) thì nói huỵch tẹt theo lối nói Miền Nam: “Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết”. (Viết Cho Mẹ và Quốc Hộitrang 345, nhà xuất bản Văn Nghệ, 1995)
 
nguyen%20van%20an.jpg
 
Nguyễn Văn An, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng và là chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm Tổng Bí Thư, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam xuất bản trong nước đã nói “Đảng đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”. Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình”.
 
 
Và còn rất nhiều, rất nhiều nữa những trăn trở phản tỉnh của:
 
– Lê Hồng Hà Cục Trưởng Cục An Ninh Bộ Công An,
– Lê Liêm Cục Nội Chính,
– Nguyễn Trung Thành Cục Trưởng Cục Bảo Vệ Đảng,
– Nguyễn Văn Hiếu Ủy Viên Thường Trực Mặt Trận Tổ Quốc,
– Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại Sứ Hà Nội tại Trung Cộng,
– Đại Tá Bùi Tín Phó Tổng Biên Tâp tờ Nhân Dân,
– Đại Tá Phạm Quế Dương Viện Quân Sử Hà Nội,
– Trung Tá Trần Anh Kim người anh hùng chống cuộc xâm lăng từ phương Bắc năm 1979,
– Sứ Thần Dương Danh Dy, đại diện Hà Nội tại Trung Quốc,
– và các ông Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Vàng Sao cùng những tuổi trẻ được sinh ra và trưởng thành trong chế độ như Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Mẹ Nấm, Người Buôn Gió… Nhiều lắm, nhiều lắm, biết kể sao cho hết.
 
 
Đứng trước sự phẫn nộ của người dân và một số người ý thức trong đảng, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trong một lần nói chuyện tại Hội Các Nhà Văn đành phải hô hào “cởi trói cho văn nghệ” (có nghĩa là Đảng coi giới văn nghệ sĩ như loài cầm thú) và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thì hô hào: “Đổi mới hay là chết”. Mà đổi mới là gì? Là cóp nhặt và làm theo những gì Miền Nam đã làm từ mấy chục năm về trước. Cũng chính nhờ biết “đổi mới” nên người dân Việt Nam mới có gạo ăn, thay vì cho mãi đến những năm 1989-1990, suốt mấy chục năm trong thời bao cấp, ngoại trừ đảng viên cán bộ và công an là được ăn cơm, còn tuyệt đại đa số nhân dân phải ăn bo bo là loại đồ ăn dành cho bò cho ngựa và mỗi chén cơm có tới hai phần là ngô khoai sắn độn.
 
Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình của Miền Nam .
 
Theo bản công bố của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội phổ biến ngày 14-12-1998 trên đài Hà Nội thì phía Cộng Sản Bắc Việt đã chết trên 3 triệu người. Quảng Nam , Quảng Bình bị thiệt hại nặng nhất, trung bình mỗi gia đình một người. Miền Nam có 300,000 quân nhân tử trận.
 
Theo ông Nguyễn Hộ trong “Quan Điểm và Cuộc Sống” thì cả hai miền Nam Bắc, cả quân và dân đã chết trên 11 triệu người. Cái giá phải trả quá đắt!
 
 
Lê Minh Khôi
 

Nhận xét về Cộng Sản

 
 
Không biết các bạn sẽ nghĩ gì về Đảng Cộng Sản khi nghe những lời nhận xét như thế này về đảng Cộng Sản (CS):

 

Đức Dalai Lama lãnh tụ tinh thần Phật giáo Tây Tạng nói :

     “Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng đôc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời.”

 

Cố Tổng thống VNCH Nguyễn văn Thiệu nói :

       ” Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm.”

 

Cưụ Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên xô Mikhail Gorbachev:

      ” Tôi đã bỏ hơn nữa cuộc đời để đấu tranh cho lý tưởng Cộng sản nhưng ngày hôm nay tôi phải đau lòng mà nói rằng Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo” 

 

Cố Tổng thống Liên bang Nga Boris Yeltsin nói :

      “CS không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó.”

 

Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan nói :

     “Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau.”

 

Cựu Tổng Thống George Walker Bush

     ”Chủ nghĩa cộng sản là một quái thai của thế kỷ 20”

…. Đây là biểu tượng thảm họa kinh hoàng trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung, và 25 quốc gia bị cộng sản cai trị nói riêng. Từ nay, oan hồn của hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ. Tưởng nhớ để tận diệt chế độ này đến tận cùng gốc rễ, vì chế độ cộng sản là tàn bạo và phi nhân.”

 

Bí thư đảng CS Nam Tư Milovan Djilas nói :

     “20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim,
40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu.”

 

Tổng thống Nga Vladimir Putin.nói :

     “Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu.
      Kẻ nào làm theo lời của CS, là không có trái tim.”

 

Cựu Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev nói :

     “Chế độ chính quyền ở Liên Xô khi trước không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị. Thực không may, đây là một chế độ đàn áp các quyền tự do căn bản không những chỉ người dân của nước mình, mà còn cho nhân dân các nước nằm trong khối cộng sản, tôi muốn nói tới các nước XHCN khác, trong gần nửa thế kỷ nay. Và vết nhơ này không thể nào bôi xóa trong lịch sử”

 

Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nói :

     “Chủ nghĩa Cộng sản đã tạo nên những con người dối trá”

 

Nguyễn Văn An cựu chủ tịch quốc hội CSVN nói:

     “Ðảng (Cộng Sản) của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội. Ðảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Ðảng trị… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động.”

 

Nhà văn Nga Alexandre Soljenitsym nói:

     “Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo. Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại, những lời nó đã nói láo với người khác.”

 

Nhà văn Dương Thu Hương đã nói:

     “Sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỷ, trên dải đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc” và “Chiến tranh không làm cho các công dân chín chắn hơn, khôn ngoan hơn, sử dụng quyền công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn, dễ thoả hiệp hơn vơi sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác”.

 

Cố nhà văn XUÂN VŨ nói:
    “Cộng Sản là không bao giờ biết thương dân yêu nước. Thằng nào biết thương dân yêu nước, thì thằng đó không phải là Cộng Sản”.

 

Một người không rõ tên đã nói:

    “Cộng Sản sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, lớn lên bằng dối trá và bạo lực, chết đi trong sự khinh bỉ và nguyền rủa của toàn thể nhân loại”

 

ST

 

Lời thú tội rùng rợn của tên cai ngục tàn ác bậc nhất lịch sử Việt Nam

http://laodong.com.vn/Lao-Dong-Doi-song/Loi-thu-toi-rung-ron-cua-ten-cai-nguc-tan-ac-bac-nhat-lich-su-Viet-Nam/110779.bld

 

Tên cai ngục Trần Văn Nhu.

 Lời thú tội rùng rợn của tên cai ngục tàn ác bậc nhất lịch sử Việt Nam

Lời thú tội rùng rợn của tên cai ngục tàn ác bậc nhất lịch sử Việt Nam

(LĐ) – Thứ sáu 12/04/2013 14:06

Viên cai ngục tàn ác bậc nhất trong lịch sử Việt Nam đó là Trần Văn Nhu (tức Bảy Nhu).

 

Hai lần kỳ công tìm gặp “thượng sĩ bẻ răng” Trần Văn Nhu

Có lẽ, chúng tôi sẽ không sợ mình đã hồ đồ, khi nói: Lao Động là tờ báo đầu tiên công bố một bức chân dung xác thực nhất, cụ thể nhất, sinh động nhất về viên cai ngục tàn ác bậc nhất trong lịch sử Việt Nam Trần Văn Nhu (tức Bảy Nhu). Từ những thông tin như huyền thoại, từ các tác phẩm đậm chất văn chương của các nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Chu Lai, Xuân Ba…, từ lời kể của hàng vạn tù nhân cộng sản và yêu nước từng bị giam giữ ở địa ngục trần gian “Trại tù binh Phú Quốc” (tỉnh Kiên Giang), người ta đã biết trên đời có một “ác quỷ Bảy Nhu”. Nhưng hình hài ông ta ra sao, ông ta còn sống hay đã chết, những “chiến tích” tra tấn tù nhân gồm 24 ngón đòn được “sử sách lưu danh” của “quỷ sa tăng” kia cụ thể ra sao? Khi chúng tôi cất bước lần tìm Bảy Nhu, hầu như ai cũng bảo đó là hành động mò kim đáy bể. Bấy giờ, lên mạng Internet tìm kiếm, gõ tên của Bảy Nhu (Trần Văn Nhu) thì tuyệt nhiên không thấy một tấm ảnh nào, ngoài vài dòng miêu tả hoặc ghi theo ký ức của những nạn nhân từng bị Bảy Nhu hành hạ.

Ông Nguyễn Văn Vạn (Bến Lức, Long An) từng bị Bảy 
Nhu tẩm xăng đốt miệng.

Những ngày lang thang ở đảo Phú Quốc, chúng tôi tình cờ gặp được đại tá Nguyễn Minh Chánh – người phụ trách Đội K92 của Tỉnh đội Kiên Giang. Anh Chánh đang chỉ huy việc đào bới tìm kiếm di cốt của rất nhiều trong số khoảng 4.000 người tù cộng sản và yêu nước từng bị “tập đoàn quỷ sa tăng” do Trần Văn Nhu đầu têu giết hại. Ông Chánh tiết lộ, ông có gặp Bảy Nhu một lần để “tham vấn” ý kiến của ông ta trong việc định hướng đào tìm hài cốt. Than ôi, có những mồ chôn tập thể khai quật rồi phát hiện tới 500 di cốt người tù đã “vị quốc vong thân”. Một ý nghĩ lóe lên trong tôi: Bảy Nhu giờ ân hận, đang lẩn lút, ăn chay trường niệm Phật để sám hối, hắn ta muốn chuộc lỗi với cách mạng bằng cách “chỉ điểm” cho cán bộ đào tìm ở những nơi hắn đã vùi thây tù nhân. Vậy thì tôi sẽ đóng vai một người viết sử đi ghi lại sự kiện bi tráng này. Sau nhiều ngày dò dẫm, cuối cùng cán bộ quân đội ngoài công trường đào mộ khổng lồ ở Phú Quốc đã giới thiệu tôi đến gặp ông Hai M – một người từng tham gia làm tiếp quản cho Trại tù binh (đã bị cải tạo), giờ là chủ hãng nước mắm có tiếng của Kiên Giang. Ông Hai M dè dặt nhận lời giúp.

Đặc điểm của Bảy Nhu là luôn lẩn tránh người lạ, ông ta sẵn sàng tọt ra vườn sau khi đàn chó dữ sủa ầm ĩ báo tin có khách. Đã có lần ông ta mắc võng nằm mấy ngày ngoài đồi vắng, chỉ để đỡ phải gặp một ai đó. Hồi mới giải phóng, sau khi đi cải tạo về, nghĩ rằng mình đang bị chửi rủa, sẽ bị hắt hủi và trả thù, Bảy Nhu còn gài lựu đạn trên bờ rào dây thép gai quanh nhà mình để đề phòng. Ai ngờ trong đi mua rượu cho bố uống quên sầu, con trai ông ta đã vướng vào và cụt một chân. 

Một tù nhân khác bị Bảy Nhu móc mắt đang được 
đồng đội cõng đi.

Trần Văn Nhu đã ngoài 80 tuổi, quê gốc ở huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Sau này, lên Sài Gòn sống rồi đi lính quân cảnh, sợ vào bộ binh dễ mất mạng nên ông ta đồng ý ra Trại tù binh Phú Quốc làm cai ngục. Khi gặp chúng tôi, Bảy Nhu thừa nhận nhiều ngón đòn dã man đã được mình và cộng sự thực thi, như: Đập vỡ xương bánh chè, ép ván vỡ lồng ngực, đốt dương vật, đốt miệng cho chín lưỡi những người tù vì tội không chịu khai báo… Thỉnh thoảng tức giận cái gì, đám cai ngục lại cho bắn vài quả đạn cối, giết mấy chục người “bướng bỉnh” khênh đi ném bỏ ngoài bìa rừng. Có khi chúng bắt người tù phải ăn cơm chấm với phân và máu của họ. Lũ đồ tể cũng sẵn sàng nướng người trên than hồng, luộc người trong chảo nước sôi, đập vỡ hết các mắt cá chân và xương bánh chè, cắt da “chỗ kín” của người tù, nhét đỉa sống vào rồi khâu lại, nướng thanh sắt đỏ rồi xuyên liên tục qua bắp chân, mổ bụng moi gan người mà chúng coi là “ương bướng”. Đặc biệt là trò dùng “gậy biệt ly” và “vồ sầu đời” (coi tra tấn, giết người như một thú chơi, nên bọn chúng đều đặt tên cho từng dụng cụ) ghè từng chiếc răng trong miệng tù nhân, bắt họ uống máu họ rồi nhè từng chiếc răng ra nộp cho “thầy cai”. “Thầy” mua vui bằng cách đeo nó trong ống bơ sữa bò treo tung tăng trên cổ. Mỗi lúc Bảy Nhu sắp đến tra tấn ai, họ đều nghe tiếng lóc xóc của hàng trăm chiếc răng bỏ trong lon sữa bò. Những bức ảnh khoang miệng người tù lởm chởm, không còn chiếc răng nào nguyên vẹn sau khi gặp Bảy Nhu có thể khiến bất cứ ai toát mồ hôi hột.

Dựng lại cảnh tra tấn tù nhân dã man tại Côn Đảo.

Ông Vũ Minh Tằng (hiện sống ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) có lẽ là người duy nhất trên thế giới này có 9 cái răng đang trưng bày ở bảo tàng. Sau khi giúp gần 100 cán bộ ta vượt ngục Phú Quốc, Bí thư chi bộ Vũ Minh Tằng đã bị Bảy Nhu tóm gọn khi vừa nhô ra khỏi đường hầm bí mật. Bảy Nhu đã đập vỡ bánh chè, bắt ông Tằng ăn cơm trộn phân và máu, thậm chí hắn còn trực tiếp bắt ông Tằng há miệng để hắn đủng đỉnh “lấy” lần lượt 9 cái răng rồi bắt ông nuốt cả máu lẫn chùm răng đó. “Một giọt máu chảy ra ngoài, tao sẽ giết mày, ném xác xuống biển” – Bảy Nhu nó cứ rít lên” – ông Tằng kể. Ông Tằng đã bới phân mình, giắt 9 cái răng đó trong cạp quần suốt gần chục năm tù đày và hơn 30 năm được phóng thích theo Hiệp định Paris rồi sống ở vùng chiêm trũng Vụ Bản. Ông giữ vì muốn ghi dấu tội ác của giặc, muốn sau này mình về với các cụ có đủ bộ phận cơ thể vào… quan tài. Thế rồi, những người bạn từng ở địa ngục trần gian Phú Quốc sống sót trở về đã vận động ông Tằng hiến 9 cái răng kia cho “Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt và tù đày” của ông Lâm Văn Bảng ở Phú Xuyên (Hà Nội). 

Gặp chúng tôi, Bảy Nhu thừa nhận nhiều ngón đòn dã man đã được mình và cộng sự thực thi, như: Đập vỡ xương bánh chè, ép ván vỡ lồng ngực, đốt dương vật, đốt miệng cho chín lưỡi những người tù vì tội không chịu khai báo… Thỉnh thoảng tức giận cái gì, đám cai ngục lại cho bắn vài quả đạn cối, giết mấy chục người “bướng bỉnh” khênh đi ném bỏ ngoài bìa rừng. Có khi chúng bắt người tù phải ăn cơm chấm với phân và máu của họ. Lũ đồ tể cũng sẵn sàng nướng người trên than hồng, luộc người trong chảo nước sôi, đập vỡ hết các mắt cá chân và xương bánh chè, cắt da “chỗ kín” của người tù, nhét đỉa sống vào rồi khâu lại, nướng thanh sắt đỏ rồi xuyên liên tục qua bắp chân, mổ bụng moi gan người mà chúng coi là “ương bướng”…

Khi bài viết “Chín cái răng lưu lạc” đăng trên báo Lao Động, nhân vật đau khổ Vũ Minh Tằng đã được hỗ trợ 30 triệu đồng làm bộ răng giả, 90 triệu đồng xây dựng lại mấy gian nhà để tiếp tục nuôi vợ yếu và cậu em trai tàn tật từ nhỏ. Cũng từ ý tưởng và kinh phí của độc giả, chúng tôi đã đưa ông Tằng trở lại đảo Phú Quốc sau gần 40 năm “xa cách” để gặp lại Bảy Nhu. Tại đây, trước máy quay, máy ảnh và hàng chục nhân chứng, Bảy Nhu đã bất ngờ nhận ra người tù quật cường Vũ Minh Tằng. Ông Tằng chửi bới, rút hàm răng giả ra căm phẫn gí vào mặt Bảy Nhu. Nhưng rồi cả hai đều khóc. Bởi như Bảy Nhu nói: “Bấy giờ tôi hành động như thằng điên. Tôi bị chúng nó bắt phải làm như con chó săn thế. Tôi xin lỗi ông Tằng và đồng đội của ông. Ngực tôi đây, mặt tôi đây, ông muốn đánh bao nhiêu cũng được, ông giết tôi, tôi cũng phải chịu. Lúc tra tấn các ông, tôi bị chúng nó ép phải làm thế, chứ thấy các ông can đảm, quật cường, một lòng vì nước vì dân, trong lòng tôi cũng kính trọng lắm chớ…”.

Sau khi Lao Động vào cuộc, tính đến nay đã có hàng trăm bài báo, hàng chục bộ phim “làm” về Bảy Nhu và ông Vũ Minh Tằng. Cái gì của lịch sử, xin hãy trả nó cho lịch sử, dù đau đớn và thao thức dằn vặt bao nhiêu đi nữa. Và, mới đây khi cùng ông Tằng trở lại “Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt và tù đày”, chúng tôi đã được ông Lâm Văn Bảng cho xem một tài liệu thuyết phục cùng những bức ảnh rợn người liên quan đến “bức chân dung của quỷ”, đến “bóng ma đang sống Trần Văn  Nhu”. Với mong muốn, “cái gì của lịch sử hãy trả nó cho lịch sử”, chúng tôi xin tiếp tục cung cấp hầu như nguyên văn tài liệu quý này để độc giả tự suy ngẫm.

Bấy giờ “tôi như một con thú độc”, cứ giết người tàn ác như vậy thôi

Tài liệu được ông Bảng đóng khung, treo lên bờ tường đó, viết như sau:

“Sau hai mươi năm, đồng chí Đoàn Thanh Phương, một “tử tù” bị tra tấn tàn độc trong Trại tù binh cộng sản Phú Quốc (nay là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân) đã gặp lại với tên cai ngục khủng khiếp Trần Văn Nhu.

Lời giới thiệu của đồng chí Bí thư Huyện ủy Phú Quốc và Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Kiên Giang:

Xin giới thiệu với ông Bảy đây là phái đoàn của các tỉnh và bảo tàng của Bộ Quốc phòng, đến gặp ông để nghe kể lại sự thật đã diễn ra trong nhà tù Phú Quốc. Ngày trước đây ông làm Trưởng trại giam tù binh Phú Quốc. Ông kể đúng sự thật, thật sự khách quan, để chúng tôi ghi lại, để đời sau con cháu ta biết được tội ác của Mỹ – ngụy, đồng thời các cán bộ cũng có cơ sở để để xây dựng Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc.

Lời thú tội của tên cai ngục Trần Văn Nhu.

Thượng sĩ nhất – viên cai ngục khét tiếng Trần Văn Nhu đáp: “Tôi ra đây làm Giám thị trưởng năm 1970. Đúng là tôi có đánh đập anh em tù binh, có bỏ họ biệt giam vào chuồng cọp, có đánh nhiều anh em, rồi giam riêng cho họ đói khát. Tôi cũng hành hạ, đánh đập, (nhổ) lấy móng tay, lấy móng chân, đục lấy răng của họ. Tôi có đánh roi cá đuối, rọi bóng đèn làm nổ con ngươi của mắt, dùng chày “vồ sầu đời” đánh vào đầu gối, bàn tay, bàn chân, mắt cá, cùi chỏ của họ. Vì khi đó thằng trung úy Hiển bảo tôi phải làm như vậy. Bấy giờ tôi như một con vật, loài thú độc ác cứ  “ăn thịt người” và giết người như vậy thôi. Nay, tôi xin nhận tội lỗi của tôi. Nhờ ơn Đảng và Nhà nước, tất cả anh em tù binh thương tôi thì để tôi sống. Nếu không thương tôi thì giết tôi cũng được. Vì tôi có lỗi với các anh tù binh, tội của tôi đáng chết”.

Đồng chí Đoàn Thanh Phương hỏi: “Có phải ông Bảy Nhu ra đây làm giám thị khu B2 không? Tôi nói lại cho ông biết ông ra đây năm 1967. Tôi nói cho ông nhớ lại nhé: Phía buồng giam bên kia là thượng sĩ Ty quản lý, đó là khu A2; bên này là ông Giám thị trưởng khu B2; còn chính giữa là trung sĩ Thu làm Giám thị trưởng khu A4 và trung sĩ Danh (phụ trách nhà dù); còn thượng sĩ nhất tên là Trần Văn Nhu phụ trách cái gì chắc ông biết rõ hơn tôi?”.

Trần Văn Nhu đáp: “Đúng. Nhưng có điều ông nói không đúng. Không phải tôi ra Phú Quốc năm 1967. Mà tôi ra năm 1970”.

Đồng chí Đoàn Thanh Phương hỏi: “Như vậy ông có biết trung tá Phước đang ngồi cạnh ông đây không? Tôi giới thiệu cho ông biết ngày trước ông gọi em Phước này là “con nít con mà đi làm cộng sản”.

Thượng sĩ nhất Trần Văn Nhu đáp: “Vì ngày đó ông Phước còn nhỏ, tôi xin lỗi ông, tôi không nhớ vì tôi hiện nay đã già, đã lớn tuổi rồi”.

Đồng chí Đoàn Thanh Phương: “Tôi sẽ kể cho ông nghe. Tức là ông ra Phú Quốc năm 1967 làm giám thị cho khu B2 như hồi nãy nói mà ông không chịu công nhận. Giờ tôi sẽ nói cho ông biết là trung sĩ Thu, trung sĩ Sanh làm giám thị của khu A4. Ngày 28.5.1968, tôi tự giới thiệu cho ông biết là, tôi tên trong tù là Đoàn Văn Công, ông nhớ chứ, ông từng bỏ biệt giam chuồng cọp, tôi đã từng vượt ngục ông nhớ chứ?”.

Ông Vũ Minh Tằng và khoang miệng bị Bảy Nhu bẻ hết răng.

Thượng sĩ nhất Trần Văn Nhu hoảng hốt, xỉu lật ngửa ra phía sau rồi gục đầu xuống khóc: “Xin lỗi, tha tội chết cho tôi vì hồi đó tôi ác quá. Tôi nhớ ra rồi. Ông Đoàn Thanh Phương cho phép tên Nhu này được quyền gọi ông bằng chú em, vì tuổi tác tôi đã cao. Thưa chú Phương, chú kể lại thì tôi nhớ ra. Đúng rồi, tôi ra đây năm 1967, lâu quá tôi quên. Giờ tôi già quá nên nó lẫn lộn. Phải rồi, chính tôi đánh chú, tôi đánh, bỏ biệt giam chú 4 lần và chú vượt ngục 4 lần. Tôi bỏ biệt giam chuồng cọp chú, hành hạ đánh đập chết đi sống lại. Nhiều lần tôi bỏ chú đói khát, phơi nắng phơi mưa, lột hết lớp da này đến lớp da khác. Tôi còn nhổ bỏ móng tay, móng chân, đục răng, đánh gãy hai bẹ sườn, đánh gãy xương đòn, đánh dùi cui vào đầu, vào người chú. Đánh chày vồ vào hai bàn chân, bàn tay, mắt cá, cùi chỏ, đầu gối, đánh roi cá đuối, đánh bể đầu, đánh không biết bao nhiêu mà kể cho hết. Tôi tính đánh đòn hiểm như thế là chú đã chết, tôi không ngờ bây giờ chú vẫn còn sống. Tôi nhớ hồi đó là thằng trung úy Hiển bảo tôi nên có tội ác như vậy. Xin lỗi tha tội cho tôi”.

Ông Tằng trong một lần trở lại Phú Quốc.

Đồng chí Đoàn Thanh Phương lên xe, Bảy Nhu chạy theo xin lỗi tha thứ cho những tội ác trong quá khứ.

Đồng chí Đoàn Thanh Phương nói: “Nếu tôi giết ông thì tôi đã giết từ lâu rồi. Ông nên nhớ rằng Đảng ta sẽ tha thứ kẻ có tội mà biết nhận lỗi, biết được như thế thì sẽ được khoan hồng. Chỉ sợ có tội mà không nhận tội, đó mới là người xấu. Hiện nay tôi còn sống như ông thấy, và tôi đã được Nhà nước tuyên dương Anh hùng quân đội”.

Đồng chí Đoàn Thanh Phương quay lại nói với những người xung quanh: “Yêu cầu tất cả anh em tù binh của chúng ta không được có hành động gì quá khích với tên Trần Văn Nhu, để sau khi bảo tồn di tích lịch sử nhà tù Phú Quốc, Trần Văn Nhu sẽ là nhân chứng sống (viên cai ngục tàn ác) trong chiến tranh vệ quốc của người Việt Nam. Việc “ác quỷ” Trần Văn Nhu được sống đến hôm nay, nó cũng là bằng chứng về chủ trương nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta”.

Biên bản viết tháng 2.1993 tại nhà Trần Văn Nhu (những người có mặt ký tên)

Lời tác giả: Trong văn bản có bị mờ, theo suy luận của chúng tôi thì có lẽ năm ấy là năm 1993. Vì như tiêu đề của tài liệu, “sau 20 năm tử tù gặp lại”, tức là ông Phương cùng đồng đội được phóng thích sau Hiệp định Paris năm 1973 (nhà tù Phú Quốc hết sứ mệnh giam giữ tù binh), hai mươi năm gặp lại là năm 1993. Điều này cũng phù hợp với nội dung kể trên, nói về việc đoàn cán bộ bảo tàng, lãnh đạo Sở Văn hóa Kiên Giang đi tìm hiểu, làm hồ sơ cấp bằng di tích cho “nhà lao”, để rồi 2 năm sau, năm 1995, Di tích lịch sử cấp quốc gia Nhà tù Phú Quốc được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận như hôm nay chúng ta đã thấy.

 

 

 
  • In trang này
  • Chia sẻ tin này qua email
  • facebook icon
  • twitter icon
  • zingme icon
  • linkhay icon
 
 
 
 

Gửi ý kiến của bạn

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. Báo Lao động điện tử có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Những bài viết này sẽ không được trả nhuận bút)

 

 (*)   (*)  

Protected by FormShield
Refresh
 
 

 

 
 
nguyen mai – 15/04/2013 09:47

Đồng ý với anh Lanh. Đề nghị xử tội giống Khơme đỏ và phát xít Đức. Không hiểu vì sao lại chưa xử.

Lê Bắc Lượng – 15/04/2013 08:15

Tôi xem loạt phim Profugos của Chile và thấm thía câu “Không có sự tha thứ thì không có sự lãng quên”. Tha thứ để có đất nước bình yên xây dựng.

Phạm Xuân Lanh – 14/04/2013 18:00

Thật kỳ lạ, một tên ác ôn như thế…(tôi rất căm fẫn và không thể nhắc thành lời), tại sao lại không xử nó như tội các của bọn Khơme đỏ. lạ quá…

Cấn hữu Tâm – 14/04/2013 14:18

Tên ác ôn này mà vẫn còn sống đến bây giờ sao? Nghe mà rùng rợn hết cả người, không biết lương tâm nó nghĩ thế nào mà không dằn vặt sao? Đáng lẽ phải tự tử mà chết đi chứ? Nhưng thôi cứ để cho nó sống để làm nhân chứng cho tội ác chiến tranh.

Trần Anh Tuấn – 14/04/2013 03:51

Máu đã đổ thì cũng đã đổ rồi. Tình đồng bào mới là quý giá. Lạy trời Phật đừng bao giờ bắt dân tộc con phải nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn. Cảm ơn nhà báo Hoàng vì bài viết.

 

Vị thượng tướng văn võ song toàn

10/09/2008 07:33 (GMT + 7)
 
 
TT – Tin thượng tướng, giáo sư, nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo qua đời sáng 8-9 tại Hà Nội khiến tôi thật bất ngờ dẫu biết rằng ở cái tuổi gần cửu thập như ông, chuyện ra đi âu cũng là lẽ thường của tạo hóa.

Là người có may mắn được tiếp xúc nhiều lần với ông từ những năm 1980, vừa với tư cách là sĩ quan dưới quyền, vừa làm nghề viết sử quân sự, tôi cảm nhận ở trong ông có hai con người cùng tồn tại: tướng võ – tướng văn song toàn.

Vị tướng lẫy lừng

Về tướng võ, ông đã từng giữ chức khu trưởng chiến khu 3 sau ngày toàn quốc kháng chiến, rồi phó tư lệnh Liên khu 3, tư lệnh Liên khu 4. Đầu năm 1950, ông được cử giữ chức đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, đứa con chung của Liên khu 3 và Liên khu 4, một trong những đại đoàn đầu tiên của quân đội ta, lúc đó ông mới 30 tuổi.

Ông đã cùng đồng cam cộng khổ với cán bộ, chiến sĩ đi suốt chiều dài các chiến dịch trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, đặc biệt đáng chú ý là các chiến dịch Hòa Bình, Điện Biên Phủ. Các chiến công của đại đoàn gắn liền với tên tuổi của ông và trong thực tế chiến đấu đã hình thành trong ông những ý tưởng và những cách đánh nghệ thuật quân sự.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được cấp trên tín nhiệm cử vào miền Nam từ cuối năm 1966 đảm nhiệm chức vụ phó tư lệnh rồi tư lệnh mặt trận Tây nguyên, phó tư lệnh Quân khu 5. Sự gian khổ, ác liệt của chiến trường Tây nguyên đã rèn đúc tâm hồn và tính cách của một nhà chỉ huy quân sự quyết đoán, táo bạo, mưu trí.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, ông là tư lệnh chiến dịch Tây nguyên. Sự nổi tiếng về tài nghi binh lừa địch, tập trung lực lượng ưu thế hơn kẻ thù trong trận đánh mở màn vào thị xã Buôn Ma Thuột giành thắng lợi đã gắn liền với tên tuổi của ông.

Ông được mệnh danh là vị tướng của thế, lực và thời cơ, có nghĩa là phép dùng binh của ông không chỉ dựa vào sự áp đảo về quân số, về trang bị, về hỏa lực mà còn phải dựa vào mưu trí, vào cách đánh sáng tạo, bất ngờ. Cuốn sách của ông Tìm hiểu về tổ tiên ta đánh giặc đã cho thấy ông thấu hiểu và vận dụng rất tài giỏi truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta.

Người thầy của nghệ thuật đánh giặc

 

Về tướng văn, là một vị tướng có tri thức uyên thâm về khoa học quân sự mà nguồn gốc của tri thức này được đúc kết từ thực tiễn mấy chục năm cầm quân của ông trong hai cuộc kháng chiến. Chính vì nhìn thấy khả năng tri thức khoa học quân sự của ông nên cấp trên đã giao cho ông đảm đương các cương vị như giám đốc các học viện quân sự, Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), Viện Chiến lược quân sự.

Ở những nhà trường và viện nghiên cứu này trong nhiều năm, ông đã dồn hết tâm sức và tinh lực để đào tạo ra các thế hệ cán bộ quân sự chính trị tài năng của quân đội.

Ông là người đã chủ trì biên soạn nhiều sách giáo khoa, giáo trình dùng cho học viên trong các học viện, nhà trường và bản thân ông cũng trực tiếp viết sách về các vấn đề của khoa học và nghệ thuật quân sự VN. Với trọng trách là phó chủ tịch Hội đồng khoa học quân sự Bộ Quốc phòng 1987-1995, ông là người đã tham gia đào tạo, hướng dẫn các cán bộ quân đội đạt trình độ chuyên sâu về khoa học và nghệ thuật quân sự. Có lần ông đã tâm sự với tôi: “Làm anh nghiên cứu phải có cái tâm, phải chịu khó đào sâu suy nghĩ để tìm ra cái hay của nghệ thuật đánh giặc.

Thực tế hai cuộc kháng chiến đã chứng tỏ anh em mình rất giỏi về vận dụng cách đánh, thế mới thắng được Pháp, được Mỹ. Nếu chỉ đi theo lối mòn, chỉ học trên bản đồ, sơ đồ mà không có thực tiễn thì người cán bộ ra chỉ huy bộ đội sẽ bị lệch, chỉ nặng về lý thuyết”. Chính vì những công lao cống hiến của ông cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nên Nhà nước đã phong hàm giáo sư cho ông năm 1986 và danh hiệu nhà giáo nhân dân năm 1988 để tôn vinh một trong những nhà khoa học hàng đầu của quân đội ta.

Giáo sư Hoàng Minh Thảo cũng là một trong những người đầu tiên nhận giải thưởng Hồ Chí Minh cho toàn bộ sự nghiệp nghiên cứu lịch sử quân sự của mình.

Vĩnh biệt ông, quân đội nhân dân VN nhớ thương một vị tướng văn võ song toàn.

 NGUYỄN MẠNH HÀ (Viện Lịch sử quân sự)

Lễ mừng 30 năm giải phóng miền Nam

Lễ mừng 30 năm giải phóng miền Nam

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/277817/vi-thuong-tuong-van-vo-song-toan.html

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo – Người của trận mạc

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo – Người của trận mạc

(Dân trí) – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là con người của trận mạc. Ông lớn lên trong thời gian đầu của Cách mạng, trướng thành trong những cuộc chiến, ăn ngủ trong khói lửa của đạn bom và lấy vợ, sinh con giữa hai trận đánh.
 >>  Vĩnh biệt Thượng tướng Hoàng Minh Thảo

Cậu bé mồ côi làng Bảo Khê

 

Hoàng Minh Thảo sinh năm Tân Dậu (1921) ở làng Bảo Khê, Kim Động, Hưng Yên. Năm 15 tuổi (1937), ông là một trong “ngũ hổ” được Bác Hồ trực tiếp cử đi học trường sĩ quan Hoàng Phố. Ông có một tuổi thơ buồn vì sớm mồ côi mẹ, tha hương cùng với người bố.

“Làng tôi rất nghèo, bà mẹ tôi là người buôn bán nhỏ, được cái tính hay thương người – Hoàng Minh Thảo kể – Bà cụ hiền lành, đối đãi với chị em trong nhà và bà con chòm xóm rất tốt và thân mật. Tôi có hai anh em nhưng cô em gái mất sớm, thành ra mình là con một. Bố tôi thì đi xa, làm thợ may ở Tràng Định, Lạng Sơn. Nhà chỉ một mẹ một con, bà cụ cứ tảo tần mà nuôi con vậy thôi, nên tôi rất thương bà.

Lớn hơn một chút, tôi được ông bố đưa lên Tràng Định học tiếp. Ngày ấy, bố tôi làm thợ may cũng chỉ đủ ăn đủ sống. Mẹ tôi mất năm 1935, khi ấy tôi 14 tuổi, đang học ở trường trung học Thăng Long (Hà Nội). Bố tôi mất năm 1947, lúc tôi đang làm Tư lệnh chiến khu 3. Nhận được tin ông cụ mất nhưng tôi cũng không về ngay được vì tôi đang đi công tác. Đến khi ông cụ được chôn cất xong, tôi mới về thắp nén nhang cho cụ.

Khi tôi học ở trường trung học Thăng Long, mỗi khi có ngày nghỉ hay vào dịp hè, tôi lại tranh thủ về thăm mẹ, thăm quê và thăm bố tôi ở Lạng Sơn”. Tướng Hoàng Minh Thảo kể về tuổi thơ của mình đơn giản như vậy.

“Xếp hạng” tướng lĩnh

Theo lời tướng Thảo, ngày còn bé ông học rất bình thường. Các cụ cũng chẳng răn dạy gì cả. Ông cụ, bà cụ mải làm ăn nên học hành cũng chẳng được bao nhiêu. Ông bảo:

– Mẹ tôi là một phụ nữ nông thôn, yêu con, quý con nên chỉ tần tảo buôn bán nuôi con, mùa cải thì mua vài mớ ra chợ quê bán, mùa rau muống thì lại làm gánh rau muống ra chợ. Ông cụ tôi thì cũng có gửi tiền về cho mẹ tôi nhưng dạy dỗ thì không. Chỉ có điều, ông cụ là một người tốt bụng, hiền lành. Có lẽ do cả bố và mẹ đều là người tốt bụng, được hàng xóm láng giềng quý mến nên tôi được môi trường này giáo dục ngay từ bé.

Thế những tài năng quân sự sau này bác học ở đâu? Tôi hỏi.

– Đều do tôi tự học tập mà nên. Về khả năng quân sự thì tôi chịu ảnh hưởng từ Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi nghiên cứu tài liệu của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh để học về Thế thời; Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp thì tôi nghiên cứu về Mưu lược.

– Nếu xếp hạng tướng lĩnh trong lịch sử quân sự Việt Nam, theo bác thứ tự sẽ như thế nào?

– Tôi xếp đầu tiên là Trần Hnưg Đạo. Ông là nhà chiến lược thiên tài về chiến tranh nhân dân. Thứ hai là Lý Thường Kiệt với chiến lược lấy công làm thủ, đòn đánh phủ đầu. Thứ ba là Quang Trung Nguyễn Huệ về tính thần tốc. Thứ tư là Ngô Quyền vì niềm kiêu hãnh dân tộc.

Còn tướng lĩnh Việt Nam hiện đại?

 

– Tất nhiên đầu tiên là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thứ hai là tướng Lê Trọng Tấn. Thứ ba là tướng Hoàng Văn Thái và thứ tư là tướng Nguyễn Hữu An. (Do tế nhị, ông không nói đến tên mình nhưng theo một số tướng lĩnh, không thể không nhắc đến tên ông – NV).

Những năm cuối đời, khi tuổi đã trên 80, ông vẫn viết sách, viết báo, đi nói chuyện về nghệ thuật quân sự và tham dự các hội nghị khoa học. Vẫn trực tiếp làm Phó tổng biên tập Tạp chí Từ điển Bách khoa, Ủy viên hội đồng chức danh GS, PGS của Bộ Quốc phòng, hướng dẫn bảo vệ luận án tiến sĩ, cao học.

 

Trận đánh đầu đời

 

Cuộc đời binh nghiệp của tướng Hoàng Minh Thảo kéo dài suốt nửa cuối thế kỉ XX, đã trải qua hàng trăm trận chiến đấu với quy mô lớn nhỏ. Thế nhưng ít ai biết rằng, trận đánh đầu tiên của ông tại Pò Mã – Lạng Sơn vào tháng 5/1945 lại diễn ra hết sức đơn giản và không có một thương vong nhỏ nào. Lý do là vừa mới nổ súng, địch đã… xin hàng.

Khi được biết Hội Khuyến học ViệtNam đang triển khai thành lập Quỹ “Vòng tay đồng đội”, Giáo sư Hoàng Minh Thảo rất mừng. Ông nói: Theo tôi, đây là việc làm hết sức có ý nghĩa bởi giúp đỡ những học sinh, sinh viên nghèo có điều kiện học tập đã tốt thì việc giúp đỡ đối với con em các cựu chiến binh lại càng tốt, đặc biệt đối với gia đình thương binh, liệt sỹ, những người đã cống hiến máu xương mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Do đó, đây không chỉ là sự cưu mang “Lá lành đùm lá rách” mà còn thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam.

Sau khi giành thắng lợi, quân ta thả hết tù binh. Thế nhưng chính trận đánh này đã để lại cho ông rất nhiều kinh nghiệm quý báu về khả năng phát động quần chúng, công tác binh địch vận, về tinh thần nhân văn… Tất cả những điều đó là nền tảng cho những tác phẩm viết về nghệ thuật chiến tranh sau này.

Ông đã viết hơn 10 tác phẩm, đặc biệt trong đó những tác phẩm như Tổ tiên ta đánh giặc, Sự thất bại của một cuộc chiến tranh phi nghĩa, Về cách dùng binh, Những vấn đề về nghệ thuật quân sự… Đây là những tác phẩm làm cơ sở để cho đến bây giờ, ông là nhà lý luận quân sự duy nhất đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh. Và có lẽ ít ai biết rằng hai tác phẩm Tổ tiên ta đánh giặc (1971) và Sự thất bại của một cuộc chiến tranh phi nghĩa (1972 – 1974) đều được ông viết ở chiến trường Tây Nguyên, ngay dưới mưa bom bão đạn và khoảng cách giữa hai chiến dịch.

Tướng lĩnh Sài Gòn thua ở mưu kế

 

–  Đời người cầm quân không phải lúc nào cũng đúng và trận nào cũng thắng – Ông tâm sự. Trận Châu Cao chẳng hạn. Tuy chiến thắng nhưng tổn thất lại lớn. Thế là kết quả không như ý muốn rồi. Chiến dịch Quảng Trị 1972 cũng vậy. Do không thực hiện đúng chỉ đạo của tướng Giáp là vòng qua Tây Huế nên khi địch phản công, chiếm lại Quảng Trị, thương vong rất cao. Sai lầm ở chiến dịch này là nghệ thuật quân sự không rõ ràng, không chú trọng phòng ngự.

Nghe nói năm 1972, bác đã đánh Kon Tum không thành công. Vì sao vậy?

– Vì… mình kém. Đáng lẽ phải sử dụng lực lượng dự bị tập trung thì lại bị xé lẻ. Sau trận đó, tay Lý Tòng Bá sư trưởng chỉ huy trận Kon Tum của phía Việt Nam cộng hoà đã viết một cuốn “Từ Điện Biên Phủ đến Kon Tum” để chế giễu mình. Và trớ trêu là chỉ 3 năm sau, Lý Tòng Bá lại bị chính cánh quân của mình do tướng Vũ Lăng chỉ huy bắt sống.

– Nửa thế kỉ binh nghiệp, có bao giờ bác thấy nao núng, do dự?

– Có chứ. Những lần B52 rải thảm, quân mình thương vong nhiều. Vũ khí của địch thì ngày một hiện đại, tinh vi. Trong khi đó, mình thì có hạn. Thế nhưng nhờ có tinh thần kiên cường, bất khuất mà chúng ta đã chiến thắng.

Nếu xét thuần tuý về mặt chuyên môn, theo bác tướng lĩnh của quân đội ta khác với tướng lĩnh Sài Gòn là gì?

– Người dùng binh phải có ba tố chất cơ bản. Một là mưu kế. Hai là quyết đoán. Ba là chọn đúng đối tượng. Tướng lĩnh Sài Gòn thua ở mưu kế.

Không…! Không…! Tôi không sợ vợ…

 

Khi tôi hỏi về chuyện tình duyên của vị tướng già Hoàng Minh Thảo, người trả lời thuộc về “tướng bà” Vũ Thị Minh Nguyệt.

Theo lời cô giáo Nguyệt, ông bà gặp nhau trong một ngôi chùa ở Phủ Lý khi bà từ Hà Nội sơ tán về đây với người cô ruột. Một buổi chiều cuối năm 1948, người chú Vũ Đình Lai (GS Vũ Đình Lai – Nguyên Hiệu trưởng ĐH GTVT) dẫn một chàng trai mắt sáng quắc, lông mày dài và rậm về “xem mắt” đứa cháu ruột. Và chỉ mấy tháng sau với hai lần gặp mặt, đầu năm 1949, họ nên vợ nên chồng.

 

Tướng Thảo và “tướng bà” Vũ Thị Minh Nguyệt. 

– Ngày đó tôi mới 17 – 18 tuổi nên chả biết gì, bảo cưới thì cưới. Ngày hôn lễ, bên nhà tôi chỉ có chú Lai và mấy người trong gia đình. Bên ông Thảo thì có hai anh cán bộ đại diện. Cưới nhau xong, chả biết về đâu. Đêm tân hôn, hai vợ chồng mượn được căn nhà lá bỏ hoang, chuột gián chạy như chạy loạn. Giường chiếu không có, phải đi mượn. Thế mà sáng sớm hôm sau, ông ấy lại lên đường đi chiến dịch.

– Lấy một ông quan to cách mạng (từ năm 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo đã là Tư lệnh Chiến khu Ba), bác có sợ không?

 

– Không. Mà có biết ông ấy làm chức vụ gì đâu mà sợ. Gặp nhau nhoáng nhoàng có mấy bữa, lại e ngại, chứ đâu có như thanh niên bây giờ mà tìm hiểu – Bà cười, một nụ cười hồn hậu nhưng vẫn phảng phất sự thanh lịch của nữ sinh Hà Thành một thời xuân sắc.

– Thế bác có sợ vợ không? Tôi hỏi tướng Thảo.

– Không…! không…! Tôi không sợ nhưng cũng không bao giờ cãi vợ – Hình như tướng Thảo hơi bối rối. Tôi chợt nhớ có lần Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, một vị tướng nổi tiếng gan lì và hổ lửa nói với tôi: “Mình đi chiến trận xa nhà suốt nên tất cả công việc to nhỏ trong gia đình đều nhờ vợ lo toan, quán xuyến. Cả đời bà ấy vì chồng, vì con nên với vợ, mình chỉ là anh tiểu đội phó thôi”.

Và tôi chợt hiểu vì sao nhiều tướng lĩnh Việt Nam ra trận thì oai hùng, dũng mãnh nhưng khi về nhà thì chỉ là “anh tiểu đội phó”!

Bùi Hoàng Tám

http://dantri.com.vn/xa-hoi/thuong-tuong-hoang-minh-thao-nguoi-cua-tran-mac-250061.htm

http://ttvnol.com/gdqp/1024635/page-23

http://dddn.com.vn/10551cat137/thuong-tuong-hoang-minh-thao-van-nguyen-ven-nguoi-linh-thoi-binh-lua.htm

Vĩnh biệt Thượng tướng Hoàng Minh Thảo

8 giờ sáng 8/9/2008, vị tướng tài năng, đức độ – Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo đã từ trần tại Bệnh viện Quân y 108 (Hà Nội).

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, tên thật là Tạ Thái An, sinh năm 1921 tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động, Hưng Yên. 20 tuổi, ông đã được Bác Hồ cử đi học quân sự ở Trung Quốc. 24 tuổi ông trở thành Tư lệnh Chiến khu (Quân khu), vị tư lệnh trẻ tuổi nhất Việt Nam.

Vào tháng 3 năm 1975, ông là tư lệnh mặt trận Tây Nguyên từ năm 1967 đến 1975 và là chỉ huy trưởng trận đánh Buôn Ma Thuột.

Không những là chỉ huy quân sự tài năng, Hoàng Minh Thảo còn là một nhà sư phạm quân sự, một nhà nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự khi trong hơn ba mươi năm được chỉ định đứng đầu những cơ sở đào tạo của quân đội ta: Học viện Lục quân, Học viện Quân sự câp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Năm 1990, ông là Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự Bộ quốc phòng. Đến năm 1996, ông là phó trưởng ban chỉ đạo biên soạn cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam.

Ông Hoàng Minh Thảo được phong quân hàm thượng tướng vào năm 1984. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học cho hơn 10 bộ sách về chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Theo Sơn Lê
Vietnamnet

http://dantri.com.vn/xa-hoi/vinh-biet-thuong-tuong-hoang-minh-thao-249809.htm

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Tag,tags,học bổng, học bổng du học Úc, du học Úc,Du học Úc, Học bổng, du học ÚC,| học tiếng anh | tiếng anh giao tiếp | tiếng anh trẻ em,Du học Châu Mỹ,Du học Canada,Du học Mỹ,Truong Quoc Te,Cao Dang Quoc Te,Du học Châu Úc,Du học Úc,Du học New Zealand,Du học Châu Á,Du học Singapore,Du học Nhật Bản,Du học Hàn Quốc,Du học Trung Quốc,Du học Châu Âu,Du học Anh,Du học Pháp,Du học Thuỵ Sĩ,Du học Hà Lan,Du học Đức, du học Úc,

(LĐ) – Chủ nhật 10/07/2011 07:30

Từ năm 2000 đến cuối năm 2010 là giai đoạn bùng nổ du học Úc với số lượng sinh viên Việt Nam đăng kí các khóa học tại Úc tăng gấp gần 7 lần và đạt mức 25.788 du học sinh.

Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút
Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút

Bối cảnh hội nhập

Trong giai đoạn 2000-2006, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,63%/năm. Cũng trong thời kì này, xu hướng cho con đi du học nước ngoài đã trở nên phổ biến với các gia đình khá giả.

Theo Bộ GD-ĐT Việt Nam, nếu như trong những năm 1997-1998, khi phong trào du học bắt đầu phát triển và Anh, Pháp, Mỹ là những quốc gia được du học sinh Việt Nam lựa chọn nhiều nhất thì cho đến giai đoạn kể từ năm 2000 trở đi, thị trường du học đã thay đổi nhiều với những điểm đến như Úc, New Zealand, Anh, Mỹ, Singapore và Thụy Sĩ.

Phần lớn sinh viên Việt Nam sang Úc du học theo diện tự túc nhưng bên cạnh đó, vào tháng 4/2000, chính phủ Việt Nam đã xây dựng Đề án “Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước” (gọi tắt là Đề án 322) và cấp học bổng du học cho các nhóm đối tượng hưởng lương từ ngân sách và doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó còn có một số lượng nhỏ sinh viên nhận được học bổng của các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học cũng góp phần khiến cho bức tranh du học Úc thêm phong phú.

Một yếu tố khác không thể không nhắc đến là sự đóng góp lớn lao của Chính phủ Úc trong việc giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế nói chung và giáo dục nói riêng. Nhân dịp đánh dấu kỉ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Úc-Việt (bắt đầu từ năm 1973), Ngoại trưởng Úc lúc bấy giờ, ông Alexander Downer, đã tuyên bố chương trình tài trợ trị giá 263 triệu đô-la Úc cho Việt Nam trong vòng 4 năm, trong đó có giai đoạn 2001-2002, nhằm tập trung cải thiện hệ thống y tế, cơ sở hạ tầng và tiếp tục viện trợ giáo dục thông qua các chương trình Học bổng Phát triển Úc vốn đã được Cơ quan phát triển Quốc tế Úc (AusAID) triển khai từ năm 1992.

Theo số liệu của Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI), tính đến năm 2006, số lượng học sinh, sinh viên Việt Nam sang Úc học tập là 6.772 người, tăng gấp 1,5 lần năm 2000. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên theo học các khóa tiếng Anh (ELICOS) cũng tăng lên 45.8% (đạt 1637 người), nhóm đối tượng học nghề tăng 29,8% (đạt 1089 sinh viên). Đặc biệt trong giai đoạn này, tổng số học sinh sang Úc học trung học đã tăng lên 51.6% và đạt 2907 người vào năm 2006.

Bước ngoặt với thị trường du học

Kể từ năm 2007, mối quan hệ hợp tác song phương Úc-Việt đã ngày càng củng cố và được nâng lên tầm cao mới, trở thành “Đối tác toàn diện” vào tháng 9/2009. Trong diễn tiến đó, vào năm 2010, chính phủ Úc công bố mỗi năm tổ chức AusAID sẽ cung cấp cho các sinh viên Việt Nam 225 Học bổng Phát triển (nay gọi là “Học bổng Australia vì sự Phát triển của Việt Nam” (ASDiV), tăng 50 % so với năm 2008. Thêm vào đó, Việt Nam cũng sẽ nhận được khoảng 15 Học bổng Năng lực lãnh đạo Australia (ALA) dài hạn và 40 học bổng ALA ngắn hạn. Hiện Việt Nam là nước đứng thứ ba về số lượng sinh viên được nhận học bổng ASDiV của Úc.

Cho tới giai đoạn gần đây nhất vào ngày 25/1/2011, Úc và Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và dạy nghề. Trong chuyến công du Việt Nam vào ngày 13/4/2011 vừa qua, Ngoại trưởng Kevin Rudd đã cam kết Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc cải cách giáo dục bậc cao thông qua việc cung cấp học bổng và các khóa đào tạo. Ngoài ra, theo kế hoạch viện trợ của Úc, cho tới năm 2015, AusAID sẽ cung cấp tổng cộng khoảng 1680 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam.

Những nguyên nhân đó đã khiến cho số lượng du học sinh Việt Nam sang Úc học tập gia tăng rất mạnh mẽ kể từ năm 2007 tới nay. Cho đến năm 2009, thứ bậc xếp hạng của Việt Nam đã tăng đáng kể và chỉ xếp sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan và Nepal. Chỉ tính riêng trong ba tháng đầu năm 2011 đã có tổng số 17.651 sinh viên Việt Nam đăng kí nhập học.

Trào lưu mới: di dân du học

Trong nỗ lực góp phần vào dòng chảy du học, không thể không nhắc đến sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực công nghệ thông tin với tốc độ từ 15-20% và “gần như là số 1 trong khu vực” (theo lời ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư ký Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU). Vì vậy, khoảng cách giữa Việt Nam và các quốc gia đã ngày càng thu hẹp lại và du học không còn là một điều quá to tát đối với các “công dân toàn cầu” tương lai ở đất nước này. Ngoài ra, còn phải nhắc đến một số nhân tố khác như sự thương mại hóa giáo dục, sự phát triển của các hình thức tín dụng du học tại Việt Nam, sự mở rộng các hình thức liên kết giáo dục bán du học Việt-Úc…

Về phía các sinh viên, một số lý do chính khiến họ lựa chọn du học Úc là vì bằng cấp được quốc tế công nhận, môi trường sống an toàn, thanh bình, người dân thân thiện, học phí và sinh hoạt phí rẻ hơn một số nước phát triển ở Châu Âu và Mỹ, quá trình xin visa nhanh chóng và thuận tiện.

Trong những năm qua, Úc rất mở cửa trong chính sách nhập cư và thường quảng bá du học gắn liền với việc có thể dễ dàng xin được thường trú Úc (PR – Permanent Residency) để định cư lâu dài tại đất nước chuột túi. Điều này đã góp phần khiến cho lượng sinh viên sang Úc du học tăng nhanh chóng, đặc biệt là đội ngũ sinh viên học nghề như làm tóc, làm bánh, nấu ăn, quản lý nhà hàng, khách sạn, thợ cơ khí… vì đây là những ngành nghề nước Úc thiếu hụt lao động. Từ năm 2000 đến cuối năm 2010, số du học sinh Việt Nam theo học các khóa nghề ở Úc đã tăng gần 9 lần.

Với việc cắt giảm danh sách ngành nghề ưu tiên (để xin PR) của Bộ Nhập cư và Quốc tịch (DIAC) vào tháng 5/2010, số lượng sinh viên Việt Nam sang Úc học nghề tuy đã có sự sụt giảm nhưng không nhiều (khoảng 4,5%) trong năm này.

Tuy nhiên, vào ngày 11/11/2010, chính sách di trú của Úc lại một lần nữa thay đổi, theo đó, những sinh viên muốn xin PR phải đáp ứng nhu cầu cao hơn về tiếng Anh và kinh nghiệm làm việc. Trước sự thay đổi này, có nhiều ý kiến cho rằng PR chỉ còn là một “giấc mơ xa vời” với phần lớn sinh viên quốc tế.

Nước Úc và cuộc chơi mang tên PR 

Có thể nói rằng trong giai đoạn từ năm 2000-2008, nước Úc rất cởi mở trong chính sách nhập cư và việc quảng bá du học Úc thường được gắn liền với định cư nhằm thu hút sinh viên quốc tế. Điều này đã khiến cho không ít sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam, có cơ hội xin được thường trú lâu dài – PR (Permanent Residency) và trở thành công dân Úc.

Tuy nhiên, trong khoảng hai năm trở lại đây, luật PR của Úc liên tục thay đổi. Từ một đất nước mở cửa thu hút lao động nhập cư đến từ các quốc gia khác dưới thời Thủ tướng John Howard, Chính phủ Úc dưới thời Thủ tướng Kevin Rudd và gần đây là Julia Gillard đang dần đóng chặt cánh cửa nhập cư.

Trước đây, để xin được PR thì du học sinh phải có đủ 120 điểm theo cách tính của Bộ Nhập cư và Quốc tịch Úc – DIAC dựa trên cơ sở bằng cấp, độ tuổi, trình độ tiếng Anh… Bên cạnh đó, những sinh viên có ngành học nằm trong Danh sách Ngành nghề nhập cư có nhu cầu cao tại Úc – MODL (Migration Occupations on Demand List) sẽ được cộng thêm điểm ưu tiên.

Tuy nhiên, vào ngày 8/2/2010, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc lúc bấy giờ là Thượng nghị sĩ Chris Evans thông báo bãi bỏ MODL và không lâu sau đó, vào tháng 5/2010, DIAC cắt giảm Danh sách các Ngành nghề ưu tiên (Skilled Occupation List – SOL), từ 408 ngành nghề xuống chỉ còn 181 ngành.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước khởi đầu của chiến lược cải cách nhập cư của chính phủ Úc.

Quyết tâm cải cách chính sách nhập cư

Điểm nổi bật nhất của luật PR mới là mặc dù để có thể đủ điều kiện nộp hồ sơ PR, các ngành học của sinh viên vẫn phải nằm trong SOL nhưng hiện nay, SOL không còn được sử dụng làm cơ sở để tính điểm như trước nữa. Đây là một trong những nỗ lực của chính phủ nhằm tách rời hơn nữa chính sách du học và định cư với lí do “chính sách nhập cư của Úc không thể bị quyết định bởi các khóa học của sinh viên quốc tế” theo tuyên bố của Thượng nghị sĩ Chris Evans, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc vào năm 2010.

Chính sự buông lỏng quản lí của Chính phủ Úc trong lĩnh vực giáo dục đã dẫn đến thực trạng là mặc dù trong những năm vừa qua có một số lượng lớn sinh viên quốc tế xin được PR theo diện tay nghề nhưng rất nhiều người trong số đó lại không thể tìm được việc làm đúng chuyên ngành vì chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động Úc.

Với sự thay đổi luật PR có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2011, chính phủ Úc đã thể hiện quyết tâm cải cách chính sách nhập cư. Tuy nhiên, hiện có nhiều ý kiến lo ngại rằng việc thay đổi chính sách di trú theo chiều hướng thắt chặt hơn sẽ càng khiến cho Úc bị thiếu hụt trầm trọng lao động lành nghề trong tương lai.

Sinh viên quốc tế “khóc ròng”

Chính sách di trú mới đưa ra những yêu cầu cao hơn rất nhiều đối với các ứng cử viên xin PR, theo đó ưu tiên nhóm đối tượng có trình độ cao, đặc biệt là tiến sĩ (được cộng 20 điểm), cử nhân hoặc những người có cả bằng cử nhân và thạc sĩ (15 điểm).

Luật PR mới cũng ưu tiên cho những ứng cử viên trong độ tuổi từ 25-32 bởi thống kê của Cục Thống kê Úc (ABS) cho thấy nhóm lao động nhập cư nằm trong độ tuổi này mang lại lợi ích nhiều nhất cho nền kinh tế Úc. Hơn nữa, những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm làm việc tại Úc và 8 năm tại các nước khác cũng có nhiều lợi thế trong việc được cộng thêm điểm.

Bên cạnh đó, một trong những thay đổi gây ra thách thức lớn nhất cho sinh viên quốc tế là việc DIAC nâng cao yêu cầu về điểm tiếng Anh IELTS, theo đó, chỉ có những người đạt 7 điểm IETLS trở lên (không có kĩ năng nào dưới 7) thì mới được cộng thêm điểm.

Không phải đến tận bây giờ chính sách nhập cư của Úc mới thay đổi mà trước đây Bộ Nhập cư và Quốc tịch nước này cũng từng khẳng định chắc chắn rằng: “Luật di trú sẽ liên tục thay đổi theo thời gian”.

Và xem ra giấc mơ mang tên PR sẽ vẫn còn như một trò đuổi bắt với các sinh viên quốc tế…

(Theo bayvut số ra ngày 7 và 8.6.2011)

http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Bung-no-du-hoc-Uc-ky-1/20242.bld